Hơi thở

Hỏi: Tại sao Ngài nhấn mạnh việc quan hơi thở tự nhiên?

Goenkaji: Bởi vì đó là chỉ dạy từ Đức Phật. Đức Phật dạy rằng, bạn phải quan sát hơi thở như nó đang là – yathabhuta. Nếu hơi thở dài, bạn biết nó dài, nếu hơi thở ngắn, bạn biết nó ngắn. Yathabhuta. Nếu hơi thở của bạn không tự nhiên, bạn sẽ cố ý để thay đổi hơi thở theo mong muốn của bạn. Sự cố ý đó của bạn sẽ không phải là với thực tế như nó đang là, mà là một thứ gì đó mà bạn tự tạo ra.

Do đó, chúng tôi nhấn mạnh nó phải luôn luôn là hơi thở tự nhiên – đi vào một cách tự nhiên, đi ra một cách tự nhiên. Nếu hơi thở dài, bạn biết nó dài. Đừng cố làm chậm hơi thở. Nếu hơi thở ngắn, bạn biết nó ngắn. Đừng cố kéo dài hơi thở. Nếu nó đi qua lỗ mũi bên phải, hãy quan sát rằng nó đang đi qua lỗ mũi phải. Nếu nó đi qua lỗ mũi bên trái, hãy quan sát nó đi qua lỗ mũi trái. Nếu nó đi qua cả hai lỗ mũi, hãy quan sát hơi thở qua cả hai lỗ mũi.

Hãy làm theo hướng dẫn của Bậc Giác Ngộ. Đừng cố can thiệp vào dòng chảy tự nhiên của hơi thở. Và nếu bạn thấy rằng tâm trí đang lang thang quá nhiều và bạn không thể cảm nhận được hơi thở tự nhiên, thì bạn có thể lấy một vài hơi – chỉ một vài – hơi thở có chủ ý, hơi thở mạnh một chút, để bạn có thể đưa tâm trí trở lại việc quan sát hơi thở. Bạn phải ghi nhớ rằng mục đích của bạn là cảm nhận hơi thở tự nhiên. Tuy hơi thở rất nhẹ, tuy nó rất tinh tế, bạn phải cảm nhận nó. Đó là mục tiêu của chúng ta.

Hỏi: Tại sao Ngài hướng dẫn chúng tôi đưa sự chú tâm vào bên ngoài cửa mũi và trên môi trên trong khi thực hành Anapana?

Goenkaji: Đó là một chỉ dẫn rất rõ ràng được đưa ra bởi Bậc Giác Ngộ. Trong cuốn Patisambhidamagga, Ngài nói rõ ràng rằng bạn phải nhận thức được hơi thở đi vào, hơi thở đi ra và mukha – ở khu vực trên môi trên. Ngài gọi đó là mukhanimitta. Nó được giải thích rõ ràng trong Patisambhidamagga và Vibhanga, mukhanimitta là: phần phía trước cửa mũi. Ngoài ra, Đức Phật nói rằng đó phải là Uttarotthassa majjhimappadese. Uttara có nghĩa là ở trên; ottha là môi; và majjimappadese là phần giữa. Và trong bài kinh Mahasatipatthana, ngài nói, hãy đưa sự chú tâm của bạn vào đó, parimukham satim upatthapetva. Sati có nghĩa là nhận thức; parimukham có nghĩa là khu vực trên môi trên.

Đức Phật chỉ rất rõ ràng. Chúng ta không thể làm khác đi. Và khi bạn thực hành, bạn sẽ hiểu tại sao Đức Phật chọn khu vực nhỏ này. Đây là khu vực mà hơi thở đi vào đi ra. Hơi thở đi vào đi ra chạm vào khu vực cửa mũi và phía trên môi trên. Đó là lý do tại sao ngài muốn bạn giữ sự chú tâm của bạn ở đây. Đối với những người có mũi dài, hơi thở có thể chạm vào lối vào của cửa mũi. Đối với những người có mũi ngắn, nó thường chạm vào khu vực phía trên môi trên. Vì vậy, ngài đã chọn khu vực này – ở khu vực cửa mũi, mũi hoặc phần giữa của môi trên.

Đức Phật không muốn chúng ta tưởng tượng hơi thở vào hoặc hơi thở ra, bạn phải thực sự cảm nhận được nó. Khi bạn chú ý, bạn có thể cảm thấy cảm giác ở đâu đó trong khu vực này.

Đối với một thiền sinh mới, ngay cả khi bạn cảm thấy hơi thở bên trong lỗ mũi thì vẫn không sao cả. Nhưng cuối cùng bạn phải nhận thức được sự va chạm của hơi thở trong khu vực này. Tại sao? Bởi vì đối với samadhi, sự định tâm, citta ekaggata [giữ tâm an trụ tại một điểm] là rất quan trọng. Đối với một thiền sinh mới, quan sát khu vực tam giác lớn hơn ở xung quanh mũi. Nhưng sau một hoặc hai ngày, thiền sinh sinh được yêu cầu quan sát một khu vực nhỏ hơn. Nó trở nên rất rõ ràng, khi bạn tiếp tục tiến lên trên con đường do Đức Phật đưa ra, rằng khu vực tập trung phải càng nhỏ càng tốt.

Và hiển nhiên đối tượng của sự tập trung phải rất tinh tế. Đó là lý do tại sao khi tâm trí đi lang thang quá nhiều, bạn được phép hít một vài hơi thật mạnh, nhưng sau đó, bạn phải trở lại với hơi thở tự nhiên. Và khi tâm trí của bạn được tập trung, hơi thở sẽ trở nên nhẹ nhàng và mềm mại hơn, tinh tế, ngắn hơn và ngắn hơn nữa. Bạn sẽ không phải nỗ lực. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Đôi khi hơi thở trở nên quá ngắn, rất tốt, giống như một sợi chỉ mỏng, cảm giác như thể ngay lập tức sau khi đi ra, nó quay lại vào lỗ mũi một lần nữa. Vì vậy, đối với một diện tích nhỏ hơn, sẽ dẫn đến sự tập trung rất tinh tế, và nếu tiếp tục không bị gián đoạn, tâm trí trở nên rất nhạy bén.

Đức Phật là sabbaññu – ngài biết mọi thứ rất rõ ràng. Có một trung tâm thần kinh quan trọng tại khu vực này. Khi tâm trí của bạn nhạy bén và bạn nhận thức được khu vực này, tâm trí của bạn trở nên nhạy cảm đến mức bạn bắt đầu cảm thấy một số cảm giác tại khu vực này. Mục đích của Anapana, mục đích của samadhi, là tạo nền tảng cho Vipassana. Vipassana không phải là Vipassana nếu bạn không cảm nhận được cảm giác.

Ngài đã dạy chúng ta một cách rất có hệ thống. Bắt đầu tại một khu vực nhỏ với hơi thở tự nhiên. Hơi thở sẽ trở nên tinh tế và tinh tế hơn; tâm trí sẽ trở nên sắc bén và sắc bén hơn. Khu vực này sẽ trở nên rất nhạy cảm và bạn sẽ bắt đầu cảm thấy nhạy bén. Ở khắp mọi nơi trên thế giới, mọi người đến các khóa học và thực hành kỹ thuật được đưa ra bởi Bậc giác ngộ, bắt đầu cảm thấy cảm giác ở khu vực này vào ngày thứ hai hoặc thứ ba. Đức Phật dạy kỹ thuật, con đường, rất hệ thống. Chúng tôi không muốn đi chệch khỏi những gì Đức Phật đã dạy.

Quay trở lại câu hỏi đầu tiên về lý do tại sao phải là với hơi thở tự nhiên – có những kỹ thuật khác đặc biệt là ở Ấn Độ nơi người ta điều khiển hơi thở, ví dụ, kỹ thuật của Pranayama. Người ta hít một hơi thật sâu và dừng lại một lúc; một lần thở ra và dừng lại một lúc. Chúng tôi không lên án các kỹ thuật khác. Chúng tôi hiểu rằng Pranayama tốt cho sức khỏe thể chất. Nhưng Đức Phật muốn chúng ta sử dụng nhận thức về hơi thở tự nhiên để đạt được bước tiếp theo của cảm giác. Hơi thở có kiểm soát này, Pranayama, không phù hợp vì đó là hơi thở nhân tạo.

Phật dạy chúng ta quan sát hơi thở tự nhiên vì nó đưa chúng ta đến giai đoạn mà chúng ta có thể thực hành Vipassana. Những người muốn thực hành Pranayama vì lý do sức khỏe, hãy để họ thực hành theo cách của họ. Đừng kết nối nó với Vipassana. Khi bạn thực hành Vipassana, hơi thở tự nhiên rất quan trọng, yathabhuta, vì nó là như vậy.

Trích từ phần Hỏi đáp với Thiền Sư S.N. Goenka về thiền Anapana, nguồn VRIDhamma.org. Quý vị nào muốn học phương pháp thiền này 1 cách đúng đắn và trọn vọn theo truyền thống Thiền Sư Goenka và Ngài U Ba Khin giảng dạy, xin vui lòng tham dự các khoá thiền. Link tìm hiểu và đăng ký tại đây: Dhamma.org

Posted in Tin tức sự kiện | Leave a comment

Tiểu sử

Tiểu Sử Thiền Sư Ledi Sayadaw

(1846-1923), Miến Điện. Aggamahāpandita, D.Litt.

Đại Trưởng lão Thiền Sư Ledi Sayadaw, bậc Đại Hiền trí (Aggamahāpandita) của Miến Điện, là hình ảnh nổi bật của thời đại này. Ngài đã viết bằng tiếng Pāli cũng như tiếng Miến Điện hơn 70 đầu sách loại Dīpāni (một loại sách giảng giải chi tiết về các pháp). Sự nghiệp to lớn của Ngài đã góp phần vào việc hoằng dương chánh pháp, nhất là giới thiệu Phật giáo Nguyên thủy sang các nước Tây Phương. Ngài còn là bậc thiền sư khả kính. Dòng thiền của Ngài hiện nay còn nhiều vị rất nổi tiếng, thiền sư S.N Goenka là một trong số đó.

Trích trong cuốn Chánh Kiến & Nghiệp – Ledi Sayadaw (Tỳ Khưu Pháp Thông dịch)

Trong những năm đầu thế kỷ 20, thiền sư Ledi Sayadaw đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa toàn bộ nền Phật giáo tại Miến Điện. Ngài đã phục hưng phương pháp thực hành thiền Vipassana, một phương pháp thực hành không chỉ dành cho Tăng, Ni, mà hầu hết các thành phần trong xã hội từ những chủ doanh nghiệp, các kỹ sư, nhà giáo, học sinh,.. tới những người nông dân, đều có thể tiếp cận và thực hành được. Những phương pháp tu học mà Ngài truyền trao đã thắp lên ánh lửa, đặc biệt chú trọng tới người cư sĩ như là một phương tiện để trì giữ truyền thống Phật giáo trước sự đe dọa của thực dân Anh.

Ngài Ledi Sayadaw là một Thiền Sư trứ danh, Ngài đã hoằng dương và phục hưng Phật giáo tại Myanmar trong suốt giai đoạn đất nước bị người Anh đô hộ. Hơn một thế kỷ trước, khi người Anh đô hộ Myanmar, Thiền Sư Ledi Sayadaw đã quan tâm tới những đe dọa ngày một lớn về truyền thống Phật giáo tôn quý của đất nước. Ngài tin tưởng rằng người Myanmar vẫn chưa biết cách để bảo vệ quốc bảo của mình trước ách đô hộ của thực dân và ngài cũng chứng kiến Giới luật của Chư Tăng, Ni, những người chịu trách nhiệm trì giữ mạng mạch Phật pháp, khi ấy đang ngày một bị suy đồi nghiêm trọng. Ledi Sayadaw đã phát nguyện hoằng dương chính pháp, đặc biệt các phương pháp thực hành thiền Vipassana bằng trí tuệ và sự tu chứng của mình.

Thiền sư Ledi Sayadaw chính là bậc thầy phục hưng phương pháp thực hành thiền Vipassana, một phương pháp thực hành không chỉ dành cho Tăng, Ni, mà còn dễ tiếp cận với hầu hết các thành phần xã hội, từ giới tri thức tới cả những người thợ săn, người nông dân và người làm nghề chài lưới. Những pháp thực hành này cũng đang được thực hành trong gần như tất cả các truyền thống Phật giáo tại các nước như Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản… và trở thành một phần không thể thiếu trong các chương trình nghiên cứu khoa học, khoa học thực nghiệm, khoa học tâm lý, thần kinh học và triết học phương Tây.

Ledi Sayadaw sinh ra tại một ngôi làng cách Mandalay 80 dặm vào năm 1846. Thời điểm đó Mandalay vẫn còn là thủ đô của một vương quốc độc lập, chiếm hơn một nửa diện tích đất nước Myanmar ngày nay. Vào thời điểm đó, trong tín ngưỡng Phật giáo Myanmar có một niềm tin phổ biến rằng Phật pháp có thể bị biến mất trên thế giới này và không xuất hiện trở lại trong nhiều kỷ sau đó. Và vào thời điểm bị ách thống trị của thực dân Anh, niềm tin ngày càng được củng cố trong người dân và phật tử Myanmar.

Ledi Sayadaw khát ngưỡng trở thành một tu sĩ, dành trọn vẹn cuộc đời tu hành. Vào tuổi 20, Ngài rời ngôi làng để tới Mandalya ở Thanjaun, một trong những ngôi tự viện nổi tiếng nhất ở Myanmar bấy giờ. Bất kỳ tu sĩ nào muốn được chấp nhận tu học tại đây đều phải ngồi bên ngoài cổng, đọc thuộc chính xác toàn bộ giới luật của tu sĩ. Chư tăng tại tự viện Thanjaun có ảnh hưởng rất lớn tại Myanmar. Trụ trì tự viện là cố vấn thân cận nhất của nhà vua, ngài và các tăng sĩ khác trong tự viện đều thuộc hội đồng cố vấn quốc gia. Ledi Sayadaw nhanh chóng được chấp thuận vào tự viện bởi ngài trụ trì nhanh chóng chú ý tới một vị tăng trẻ có trí nhớ đặc biệt. Ngài có giọng tụng đầy uy lực và đặc biệt, có trí nhớ vượt trội so với mọi người. Ngài tu học dưới sự hướng đạo của thầy trụ trì và chư tăng cao cấp trong tự viện. Tại đây, chương trình tu học chú trọng tới học thuật. Chư Tăng phải học, ghi nhớ và tranh biện kinh, luật, luận mà ít dành thời gian cho hành thiền.

Với năng lực của mình, Ledi Sayadaw sớm được giao trọng trách làm giảng sư dự thính, rồi giảng sư chính thức. Tuy nhiên trong thời gian này ngài tự thấy bản thân không có thành tựu bất cứ pháp thực hành nào. Thực sự không có văn bản nào ghi lại rằng ngài đã tham thiền nghiêm ngặt trong suốt những năm tháng tại Mandalay, từ 1867 tới 1883. Ngài tập trung vào việc học thuật, chủ yếu đọc kinh văn bằng ngôn ngữ Pali, đặc biệt các bản kinh văn triết học trừu tượng như Vi diệu pháp. Những bản kinh văn này mô tả thực tại từ phương diện tuyệt đối. Ở hệ thống này, tất thảy vạn pháp đều được quán chiếu trong một chuỗi tiến trình hiện khởi, tác động, trôi chảy và biến mất trong từng khoảnh khắc của dòng tâm. Những kẻ phàm phu thì lại thấy thế giới tương đối này là có thực và có bản chất cố hữu.

Trước những biến cố đó của đất nước, ngài quay trở lại ngôi làng nơi mình sinh ra, kiến lập một ngôi tự viện gần làng và Pháp danh Ledi, “bậc thầy tôn quý của Rừng” cũng bắt đầu từ đó. Vào thời gian này, Ngài nhiệt thành tham thiền, sử dụng các lý thuyết mà mình đã tu học để thực hành. Những năm tiếp theo, Ngài dành trọn thời gian chỉ tham thiền, tới năm 1900, ngài đã hoàn toàn rời bỏ trọng trách trụ trì tự viện và chuyển tới thực hành nghiêm mật trên những hang động ở vùng núi cao gần bờ sông Chindwin. Trong một cuốn tiểu sử về ngài kể lại rằng, có một lần người thị giả tới hộ thất, đã hữu duyên chứng kiến ngài trong lần nhập định, thân hình bay lơ lửng trên không trung! Cho dù những lời kể lại trên có đúng hay không, thì những luận giảng của ngài trong thời gian này cũng chia sẻ về những thành tựu trong việc khai triển những năng lực của dòng tâm. Trong một tài liệu mà Ngài chia sẻ như sau: “Khi truyền thống Phật giáo bị suy đồi, nhưng đã có nhiều người hữu duyên tìm cầu tới ta, người cất cao ngọn cờ của sự tinh tiến vĩ đại và vô song! Ta đã thực hành trọn vẹn tất cả các pháp thiền. Ta đã thành tựu con đường trí tuệ, thuần thực và thành tựu được năm loại trí tuệ siêu việt”.

Thông thường các bậc thầy rất hiếm hiển lộ những thành tựu tu tập của mình, đặc biệt đối với một tăng sĩ truyền thống Theravada. Nhưng Ledi Sayadaw là một bậc thầy vô song. Ngài chia sẻ đôi chút những thành tựu của mình, có lẽ cũng là phương tiện để cảm hóa nhiều thành phần trong xã hội.

Với nhiều năm tham thiền trên những hang động trên núi cao, Thiền Sư Ledi Sayadaw thấy đã tới lúc nhập thế hoằng dương chính pháp. Những năm tiếp theo, ngài đã dành trọn thời gian, đi tới khắp các vùng miền trong đất nước, tới những vùng xa xôi, vùng núi cao để hoằng dương giáo pháp. Ngài giảng dạy giáo pháp những nơi mình tới, viết luận, thơ, luận giảng Phật giáo, thiết lập các trung tâm tu học cho Chư Tăng Ni, cho phật tử, cư sĩ. Tầm ảnh hưởng của ngài lúc này vô cùng to lớn, rộng khắp đất nước. Một viên chức người Anh đã phải thốt lên: “Bất kỳ nơi nào ngài viếng thăm, có hàng ngàn đệ tử thành kính cung nghinh và đỉnh lễ dưới gót sen của bậc thánh tăng”. Một nhà văn Myanmar khi ấy đã tán thán rằng, thời gian này những “cơn mưa Pháp” đã tuôn tràn khắp mọi nơi trên đất Myanmar. Tham thiền cũng là một chủ đề quan trọng nhưng thường được trình bày trong văn cảnh của triết lý Vi diệu pháp.

Trước thời gian Ngài truyền pháp, những người phật tử, những người dân bình thường hầu như chưa bao giờ được lắng nghe về giáo pháp đức Phật, về Vi diệu pháp một cách đầy đủ, sâu sắc và có hệ thống; những giáo pháp này được coi là quá khó cho những người thường. Nếu bạn là một người Phật tử, cách tốt nhất là tập trung vào các vấn đề đơn giản như giữ làm việc thiện lành, học cách làm người tốt, cúng dường, bố thí bên ngoài. Nhưng Ngài đã thành công khi truyền trao Vi diệu pháp một cách sâu rộng. Ledi Sayadaw lo lắng rằng Phật giáo sẽ bị suy đồi nếu mỗi người không thực hành, thể nghiệm những chân lý mà đức Phật đã truyền trao, người phật tử cũng đã thấu hiểu rằng với việc tu học Vi diệu pháp, chính họ cũng là những ngọn đuốc giúp trì giữ được những giáo pháp tôn quý.

Bên cạnh việc giảng dạy các kỹ thuật tham thiền, Thiền Sư Ledi Sayadaw cũng rất chú trọng vấn đề giới luật cho các phật tử thực hành. Trong các buổi thuyết pháp và các bài luận mà ngài trước tác đều rất chú tới giới cấm uống rượu, sử dụng các chất gây nghiện, ăn thịt bò và nhiều chất cấm khác, những thứ mà ngài thường cho rằng người Anh lại đang khuyến khích sử dụng tại đất nước mình. Ngài từng dạy rằng: “Tôi chắc chắn Chính phủ sẽ ủng hộ những chia sẻ của tôi. Tất nhiên sẽ có nhiều ngành nghề trong xã hội ví như nấu rượu, buôn bán chất gây nghiện cần phải bị hạn chế và cấm sau những buổi thuyết pháp của tôi. Chỉ như vậy mới đảm bảo đời sống đạo đức cho người dân.”

Trong những năm đầu thế kỷ 20, Thiền sư Ledi Sayadaw đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa toàn bộ nền Phật giáo tại Myanmar. Các hành giả cư sĩ, bao gồm cả người nam và người nữ đều đóng vai trò quan trọng trong Phật giáo, những phương pháp tu học mà Ngài truyền trao đã thắp lên ánh lửa, đặc biệt chú trọng tới người cư sĩ như là một phương tiện để trì giữ truyền thống Phật giáo trước sự đe dọa của thực dân Anh. Trước đây nhiều người quan niệm rằng, sự chứng nghiệm các trạng thái của tâm thường chỉ dành cho những ai hiến dâng trọn cuộc đời hoặc phải dành nhiều năm tháng ẩn cư mới có thể đạt tới thì nay với phương pháp của Ngài, những người bận rộn ở đời sống thế tục vẫn có thể tham thiền và chuyển hóa được các dòng tâm phiền não của mình. Các phương pháp ngài truyền trao vẫn là chuẩn mực của các phương pháp thiền tập ở Myanmar ngày nay.

Thiền Sư Ledi Sayadaw đã truyền trao giáo pháp theo hướng kết hợp giữa tu và học, kết hợp giảng dạy triết lý với thực hành, đưa các phương pháp thiền Vipassana tới quảng đại quần chúng. Trong nhiều trước tác của mình, Ngài đã nhiều lần luận giảng rằng, người Phật tử, cư sĩ tu học, dù ở mức độ sơ khởi đi hay chăng nữa thì vẫn tạo một nền móng cho những bước thiền quán sâu sắc hơn về sau. Ngài khích lệ mọi người tu tập, quán chiếu một cách chi tiết về tứ đại, đất, nước, gió, lửa và tin tưởng rằng mọi người đều có thể thấu hiểu và trải nghiệm được các tri kiến này. “Nếu có sự thấu hiểu thì những thiền giả quán sâu sắc về vô thường sẽ thành tựu được ngay khi đang lắng nghe pháp thoại hoặc ngay trong đời sống thường nhật. Bất kỳ ai nếu được dạy về các phương pháp của thiền Vipassana đều cũng có thể quan sát, điều phục và chuyển hóa dòng tâm trong đời sống thường nhật của mình.”

Những giá trị của cách tiếp cận này vượt xa trong phạm vi phương pháp thiền quán Vipassana. Với con đường thực hành được khởi nguồn từ Ngài thì một hành giả Phật giáo tại gia có thể trở thành bậc trì giữ giáo pháp, bảo hộ và nắm giữ mạch giáo pháp. Ledi Sayadaw luận giảng rằng, con đường này có thể được gọi là “những thầy tu trong đời sống thế tục”. Những “thầy tu” này không chỉ giữ những giới luật bên ngoài mà cả những kỷ luật nghiêm mật của các phương pháp hành thiền. Tri kiến này đã làm thay đổi quan niệm về vai trò của người cư sĩ và hành giả tại gia trong truyền thống.

Trước khi viên tịch vào năm 1923, Thiền Sư Ledi Sayadaw đã dạy thiền tập cho hàng ngàn người dân Myanmar, truyền trao dòng truyền thừa thực hành cho thế hệ các đệ tử, những hành giả vẫn tiếp tục hoằng dương phương pháp hành trì rộng khắp trên thế giới. Thế hệ các đệ tử của ngài đã tiếp tục kế thừa mạch pháp chú trọng tu học, hành trì quán sát, chuyển hóa dòng tâm, thiết lập nhiều trung tâm Phật giáo không chỉ tại Myanmar mà còn tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Một trong những đệ tử xuất sắc của ngài là Thiền Sư cư sĩ Thetgyi, ngài Thetgyi là bậc thầy của Thiền Sư cư sĩ U Ba Khin, từng là một viên chức chính phủ Myanmar. Ngài U Ba Khin là bậc thầy của nhiều Thiền sư suất sắc trên thế giới ngày nay như Ngài Daw Mya Thwin, Ngài Ruth Denison, Ngài Robert Hover, Ngài John Coleman và Ngài S.N Goenka.

Riêng Ngài S.N. Goenka đã thiết lập hơn 120 trung tâm thiền Vipassana trên toàn thế giới và Ngài chính là bậc thầy của hai Thiền Sư chính niệm có sức ảnh hưởng lớn tại các quốc gia phương Tây hiện nay là Ngài Sharon Salzberg và Ngài Joseph Goldstein.

Nguồn: https://phapbao.net/tieu-su-thien-su-ledi-sayadaw

Posted in Tin tức sự kiện | Leave a comment

May mắn

…”𝑁𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑡𝑎 𝑛𝑜́𝑖 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑚𝑎𝑦 𝑚𝑎̆́𝑛 𝑛𝑒̂́𝑢 𝑎𝑖 đ𝑜́ đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑐ℎ𝑒̂́𝑡 𝑜̛̉ 𝑘𝑖𝑒̂́𝑝 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑣𝑎̀ đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑠𝑖𝑛ℎ 𝑟𝑎 𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑐𝑜̃𝑖 𝑡𝑟𝑜̛̀𝑖. 𝑁ℎ𝑢̛𝑛𝑔 Đ𝑢̛́𝑐 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑛𝑜́𝑖 𝑟𝑎̆̀𝑛𝑔: 𝑎𝑖 𝑚𝑎̀ 𝑜̛̉ 𝑐𝑜̃𝑖 𝑡𝑟𝑜̛̀𝑖 𝑐ℎ𝑒̂́𝑡 đ𝑖 𝑣𝑎̀ đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑠𝑖𝑛ℎ 𝑟𝑎 𝑙𝑎̀𝑚 𝑘𝑖𝑒̂́𝑝 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖, đ𝑜́ 𝑚𝑜̛́𝑖 𝑙𝑎̀ 𝑡ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑠𝑢̛̣ 𝑙𝑎̀ 𝑚𝑜̣̂𝑡 đ𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑚𝑎𝑦 𝑚𝑎̆́𝑛.

Kiếp người là một kiếp sống tuyệt vời. Khả năng có thể nhìn vào bên trong của con người thật tuyệt vời. Đây là kiếp sống mà ta có thể quan sát được sự thật như nó đang là, thoát khỏi cái thực tại quy ước bề ngoài và tiến về sự thật tối hậu. Thật may mắn, chúng ta giờ có được cơ may hiếm hoi này; chúng ta là con người.

𝐷𝑢𝑙𝑙𝑎𝑏ℎ𝑎𝑚̣ 𝑠𝑎𝑑𝑑ℎ𝑎𝑚𝑚𝑎𝑠𝑎𝑣𝑎𝑛𝑎𝑚̣.

Tuy nhiên, nếu một người không gặp được chân lý này, quy luật này, Dhamma này, nếu anh ta hay cô ta không có được ngay cả một cơ hội để nghe về Dhamma này, người đó đã lãng phí kiếp người của mình . Người này có thể tiêu phí trọn đời mình như những chúng sinh khác – một con vật, một con chim hay một con bò sát. Chỉ lắng nghe được sự thật về Dhamma thôi, điều này tự bản thân nó cũng đã rất hiếm”..

SN Goenka.
Nguồn: vn.dhamma.org

Posted in Tin tức sự kiện | Leave a comment