LINH HỒN & SỰ TÁI SINH – THẦY VIÊN MINH
Thực ra, thuyết tái sinh vốn có trước Phật giáo, thuyết này phần lớn chủ trương có một linh hồn hay bản ngã sinh đi sinh lại từ cõi này đến cõi kia mà vẫn không thay đổi, chỉ khác nhau trong quan niệm về mục đích và ý nghĩa sự tái sinh đó mà thôi.
Đức Phật không chấp nhận thuyết tái sinh theo quan niệm này, Ngài dạy rằng không có tái sinh như vậy mà chỉ có SỰ TỤC SINH. Tục sinh là một quá trình chuyển biến diễn ra theo luật nhân quả nghiệp báo.
Nó KHÔNG THƯỜNG vì nó LUÔN LUÔN THAY ĐỔI,
Nó KHÔNG ĐOẠN vì nó DIỄN BIẾN LIÊN TỤC không thể cắt bỏ một đoạn nào.
Ví như ngọn lửa của một cây nến, nó không thường vì mỗi lúc là ngọn lửa của một đoạn tim và sáp khác nhau, nhưng nó không đoạn vì sự cháy của ngọn nến vẫn chuyển biến liên tục. Thực ra trong đó ngọn nến chết đi và sống lại để chuyển hóa không ngừng. Trong Phật giáo chủ yếu mô tả SỰ SINH DIỆT DIỆT SINH LIÊN TỤC CỦA CÁI TÂM, nhất là tâm hữu vi tạo tác. CÓ HỮU VI TẠO TÁC MỚI CÓ TỤC SINH. Nếu không có hữu vi tạo tác thì không còn tục sinh nữa mà là vô sinh bất diệt.
CÕI ÂM không phải là những hồn ma vất vưởng được gọi là thân trung ấm, mà là những cõi giới tục sinh sau khi chết. Cõi giới này do tưởng sinh sau khi chết tương ứng với nghiệp của người ấy lúc sinh tiền.
…..
Vì linh hồn được định nghĩa là thường tồn bất biến nên Phật giáo nguyên thuỷ xem đó là chấp thường hay thường kiến, không đúng với sự thật.
Thay vì chủ trương linh hồn bất biến, Phật giáo nói MỖI CHÚNG SINH HỮU TÌNH ĐỀU CÓ TÂM. Tuy tánh của tâm vốn không sinh, không diệt, không thường, không đoạn… nhưng TƯỚNG CỦA TÂM qua 6 thức thì lại sinh diệt vô thường tuỳ theo duyên nghiệp của mỗi người nên mới có thể tái sinh dưới nhiều dạng tâm khác nhau trong 3 cõi 6 đường gọi là THỨC TÁI SINH, chứ không thường tồn bất biến.
…..
Nhiều người thường nghĩ sau khi chết chỉ còn thể biết (tâm), linh hồn hay vong linh gì đó. Thực ra, chết là chấm dứt mạng sống với tử tâm (cuti) và lập tức tâm tục sanh (patisandhi) thuộc thức uẩn liền kết hợp với các uẩn khác (sắc, thọ, tưởng, hành) để hình thành một đời sống mới gọi là tái sanh, chứ không phải chỉ còn lại thức uẩn bay lơ lửng như người ta tưởng tượng.
Tuy nhiên, đời sống mới này có thể ở dưới những dạng chúng sanh mà mắt thường không thấy được nên người ta gọi là cõi vô hình (thực ra vẫn hữu hình dưới sắc thân khác). Do đó đôi lúc người chết có thể hiện hình theo dạng sắc thân mới (do tưởng và nghiệp thân đó có thể là bản sao của thân trước nên người thân thấy họ y như khi còn sống, chỉ đẹp hơn hay xấu hơn do trường năng lượng họ đang có). Do sắc thân của họ ở trong chiều không gian khác nên mắt thường không thấy nhưng do độ cảm ứng của máy chụp hình hay quay phim có thể thu họ được dưới dạng quang học.
….
Đức Phật, đức Chúa, Krishnamurti và sư đều nói là vô ngã, chỉ là ngôn ngữ khác nhau thôi, vì đó là sự thật hiển nhiên. Gọi là LINH HỒN, BẢN NGÃ, ý thức, tư tưởng v.v… đều để chỉ một sự kiện THỰC TẠI ĐÓ LÀ CÁI TÂM.
Do đó Phật giáo không phủ nhận những tên gọi mà chỉ PHỦ NHẬN CHỦ TRƯƠNG SAI LẦM (tà kiến) gán cho những tên gọi đó không đúng với bản chất thực của tâm, như chủ trương linh hồn hay bản ngã là thường hằng bất biến, là sở hữu riêng của mỗi người v.v… Vì chủ trương này chỉ tạo ra cái ta ảo tưởng.
Như vậy phủ nhận một linh hồn hay một cái ta ảo tưởng không có nghĩa là phủ nhận cái tâm. Nói hồn lìa khỏi xác hay nói cái TÂM BIẾN CHUYỂN LIÊN TỤC TỪ TỬ TÂM (cuti) ĐẾN TÂM TỤC SINH (patisandhi) thì đúng, nhưng cho rằng có một linh hồn hay bản ngã tồn tại bất biến đi từ thể xác đã chết qua một thể xác mới để tái sinh là SAI.
CÓ CÁI TÂM NHƯNG KHÔNG PHẢI BẢN NGÃ HAY LINH HỒN BẤT BIẾN mà nó có ĐẶC TÁNH BIẾT PHÁP nên còn gọi là TÁNH BIẾT. Khi tánh biết hoàn toàn rỗng lặng trong sáng thì nó thấy rõ bản chất của pháp nên giải thoát giác ngộ, còn khi cái ta vô minh ái dục khởi lên thì không thấy thực tánh pháp nên cái ta luôn luân hồi sinh tử.
Đức Phật dùng một cái HÓA THÂN do TÂM THẮNG TRÍ SINH (tưởng trong thiền định) để lên cõi trời thuyết pháp cho mẹ chứ KHÔNG PHẢI XUẤT HỒN RA KHỎI XÁC để bay lên cõi trời như nhiều người thường nghĩ.
Vì vậy cũng không phải hồn đứng ngoài thấy xác hay hồn nhập lại xác mà đó chỉ là một hóa thân do tưởng sinh thấy lại cái báo thân thôi. Tóm lại, chính vì tất cả những hoạt động trên của tâm biểu hiện qua những tiến trình tâm sinh vật lý, trùng trùng duyên khởi, nên mới nói vô ngã, không có một bản ngã hay linh hồn bất biến.
…
Linh hồn, Tâm hay Thức chỉ là tên gọi thôi, chủ yếu là thấy nó đúng như nó là. Nếu tưởng nó là, cho nó là, muốn nó phải là, mong nó sẽ là v.v… mới là cái ta ảo tưởng.
…
Thân và tâm con người thường kết hợp để vận hành và tạo ra năng lượng. Năng lượng này có thể tốt hay xấu, thiện hay ác tuỳ theo nhận thức và hành vi của mỗi người. Khi chết thân tâm có thể tan hoại nhưng năng lượng thì không mất (giống như luật bảo toàn năng lượng). Năng lượng này sẽ hình thành một thân tâm khác gọi là tái sinh.
“Phán xét cuối cùng” như con chiên Thiên Chúa tin cũng chính là luật nhân quả. Ai giác ngộ giải thoát thì sẽ nhập Niết-bàn, ai vô minh ái dục thì sẽ còn chìm đắm trong luân hồi sinh tử. Chỉ là cách nói khác nhau thôi
….
Cứ sống, trải nghiệm, chiêm nghiệm, khám phá, học hỏi rồi mọi chuyện sẽ thông. Đừng vội kết luận đúng sai hay hình thành quan niệm gì cả. Khám phá thì luôn mới mẻ và bất ngờ. Khi con sống với một quan niệm, dù đúng thì vẫn đánh mất tính sáng tạo vì đã trở thành lối mòn thiếu linh động và hứng thú.
……
Có một cái thường hoạt động trong con mà người thì gọi là tâm, người khác gọi linh hồn, hoặc gọi là ý, thức, minh linh, tánh biết, tánh giác, ông chủ, vân vân và vân vân…
Ai gọi gì thì gọi, ai nói có nói không cũng mặc, quan trọng là con có biết “nó” hoạt động ra sao hay không. Đừng mất thì giờ tranh cãi về cái “nhãn” mà lý trí con người gán cho “nó”.
- Thầy Viên Minh
(Quán Trung tổng hợp chia sẻ của thầy từ hỏi đáp tại trungtamhotong.org)
