TRỞ VỀ

TU KHÔNG PHẢI LÀ “SỬA”, MÀ LÀ “TRỞ VỀ”
…Trước hết Sư bá nói để con yên tâm là Sư bá đã chấp nhận yêu cầu của con, kể từ nay Sư bá có trách nhiệm hướng dẫn tinh thần và đạo lý cho con. Còn con, con hãy lấy Đạo làm lẽ sống của mình, hướng về nội tâm hơn là ngoại cảnh.
Nhận thức của con đã sâu sắc rồi đó, những điều con nhận xét đều đúng. Sư bá chỉ lưu ý con là đừng để những sai trái của người khác làm vướng bận tâm mình là được.
Câu hỏi của con về chuyện Vi Tiếu “Tu sửa” rất hay, ít người hỏi Sư bá về những chuyện vi tiếu ấy. Những câu chuyện ngắn gọn đó tuy không có ẩn ý gì nhưng nếu không nhận ra ngay được thì rất dễ hiểu lầm.
Câu chuyện thế này (Sư bá nhắc đại ý):
“Có người hỏi:  – Tu có phải sửa không? Thiền sư nói: – Không. – Vậy là không sửa? – Cũng không. – Như thế phải làm sao? Thiền sư trả lời: – Không sửa thì kẹt cái này, sửa thì thành ra cái khác.”
Trong câu chuyện con để ý là Thiền sư không hề trả lời đúng hay sai, vì như vậy là đã xác định. Thiền sư chỉ nói “không” với dụng ý làm người hỏi ngạc nhiên và chú ý. Từ ngạc nhiên gây chú ý của chữ “không” đầu đẩy người hỏi vào suy luận thứ hai. Thiền sư đã chờ sẵn để bồi thêm một chữ “không” nữa nhằm tuyệt đường suy luận của người hỏi. 
Nhưng với hai lần phủ định Thiền sư vẫn chưa đẩy người hỏi vào chỗ tuyệt đường suy luận của lý trí được. Lý trí vốn đa nghi và bất an nên vẫn loay hoay tìm cầu kết luận qua câu hỏi thứ ba. Thiền sư biết rất rõ điều đó, nên đã không đưa ra một kết luận nào nhất định để lý trí có thể bám víu được, mà chỉ nói: “không sửa thì kẹt cái này, sửa thì thành ra cái khác”. 
Bởi vì vấn đề không phải ở chỗ sửa hay không sửa, mà có thấu rõ được cái trung tâm tạo ra nhu cầu sửa đó hay không. Nếu sửa hay không sửa đều là hành động phát xuất từ cái Ta thì rốt cuộc cũng chẳng có gì mới lạ.
“Vi tiếu” hoặc các công án thiền đều nhằm mục đích đẩy khối lý trí vọng thức vào chỗ tuyệt đường. Tuyệt đường thì đi về đâu? Tuyệt đường thì không hướng ra bên ngoài, mà trở về với chính mình, thấy rõ chính mình như mình đang là. Giây phút hồi đầu đó Đức Phật gọi là chánh niệm tỉnh giác. Các Thiền sư Trung Hoa gọi là ngộ, kiến tánh, thấy bản lai diện mục. Lão Tử gọi là kiến tố, phục mệnh, v.v…
Những thành ngữ như: đương xứ tức chân, bất động hiện quán, diệu trạm tổng trì, tuyệt thánh khí trí… hoặc Sanditthiko, Akàliko, Ehipassiko, Opanayiko, Paccattam veditabbo vinnùhi… đều chính là tỉnh thức, là thắp sáng chính mình hoặc Sư bá gọi là sáng suốt, định tĩnh.
Để con dễ hiểu, Sư bá cho một ví dụ: 
Giả sử con đang sân, nếu con không tu sửa thì chẳng lẽ cứ để sân hoài, cứ mặc cho tâm sân lôi cuốn, đầu hàng vô điều kiện? Nhưng nếu con loay hoay tu sửa, mong đạt một trạng thái đối nghịch là không sân, tức là con bực mình với cái sân của mình, làm cho nó càng sân thêm. Nếu sửa được thì giận hóa thành mừng, buồn hóa vui, có khi thành thỏa mãn, ngã mạn… Nghĩa là thành ra một trạng thái khác, mà tính chất vẫn là bản ngã.
Vậy phải làm sao? Cốt tử là ở chỗ đó. 
Giản dị thôi, bây giờ con chánh niệm tỉnh giác, thắp sáng cái sân của con lên ngay chính cái lúc nó đang hiện diện. Lúc đó thật ra không còn là sân nữa, mà là trí tuệ, là sáng suốt, định tĩnh, trong lành. Vấn đề đã được giải quyết mà không hề nói đến sửa hay không sửa.
Chánh niệm tỉnh giác là không sửa mà vẫn được sửa nên không kẹt cái này, cũng không thành ra cái khác. Tu thật ra đơn giản chỉ là như vậy.
Bể khổ mênh mông, vấn đề không phải là sửa hay không sửa, mà phải biết hồi đầu (trở về). Tất cả lỗi lầm đều do lý trí vọng thức mà hướng ra ngoài. Hồi đầu, tức chánh niệm tỉnh giác, là bến. Hồi đầu là không buông trôi theo lý trí vọng thức, cũng không chống lại nó mà quay lại nhìn thẳng vào lý trí vọng thức, vào lỗi lầm đang khởi sinh và đang tự diệt cho nên ngay nơi sinh diệt mà giác ngộ giải thoát.
Tóm lại:
+ Người không tu thì đành thúc thủ trong luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau.
+ Người loay hoay tu sửa thì lại chạy theo hình bóng lý tưởng của bản ngã vẽ vời, tuy không thúc thủ nhưng có vùng vẫy cũng không ra khỏi trầm luân. 
Chỉ có người tỉnh thức, không đến không đi mà vẫn ung dung tự tại.
Mong rằng “Vi tiếu” đó giúp con thấy ra con đường tu tập của mình.
Thầy Viên Minh – Tuyển tập Thư Thầy – Thư số 32

Posted in Tin tức sự kiện | Leave a comment

BINH THAN

BÌNH THẢN TRƯỚC MỌI ĐỐI TƯỢNG DÙ ĐỒNG HAY BẤT ĐỒNG VỀ QUAN ĐIỂM
🏵        Thầy Viên Minh chia sẻ:
…Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà minh có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt.
Nếu vội vàng có thái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người xung quanh. Môi trường và những người xung quanh là tấm gương phản chiếu thái độ nhận thức và hành vi của mình.
Hòa nhập không có nghĩa là hùa theo, bất đồng không có nghĩa là chống đối. A dua hay đối kháng đều là hai thái độ thiếu hòa nhập.
Hòa nhập là sự tương giao, còn a dua hay đối kháng là mối quan hệ. Trong mối quan hệ thì có thân có thù, có thích có ghét, còn trong sự tương giao thì có thể thuận hay nghịch, sinh hay khắc một cách tự nhiên nhưng không phải là thái độ a dua hay chống đối.
Con nên tập bình thản trước mọi đối tượng, dù đồng hay bất đồng về quan điểm, về cách sống hay tính khí với họ. Trừ phi họ làm điều gì có hại đến lợi ích chung thì mới nên tỏ thái độ xây dựng đúng đắn để giúp họ nhận thức ra hành động sai trái của họ…
Thầy Viên Minh Nguồn: trungtamhotong.org

Posted in Tin tức sự kiện | Leave a comment

HIEN DUC

PHẢI CHĂNG NGƯỜI HIỀN LÀ CÓ ĐỨC?HỎI:
Thưa thầy, người hiền phải là người có đức hay không?
ĐÁP: Hiền là có đức, có đức mới hiền được. Người hiền lành họ tu sâu dày lắm.
 Chúng ta cần phân biệt giữa hiền và khờ như thế này: Ví dụ một người không biết làm gì hết, không biết phản ứng hay phải có thái độ nào khi gặp mọi tình huống khác nhau thì đó là người khờ. Do đầu óc không nhanh nhạy, lờ đỡ chứ không phải là hiền. Gặp hạng người này, chúng ta đừng nghĩ họ hiền. Rất nhiều người lầm khi thấy một người khờ tưởng là hiền, vì có khi thấy khờ khờ đó nhưng gặp chuyện lại nổi cộc lên, quậy tan nát.
Còn người hiền thật sự, họ rất có trí tuệ, thấy hiền hiền vậy mà khi đụng chuyện họ rất cứng rắn. Trong đời sống lúc nào cũng nhường nhịn, không tranh cãi với ai, thích giúp người. Nhưng chuyện gì họ biết là sai rồi là cương quyết bảo vệ lẽ phải tới cùng. Đó mới là người hiền.
HỎI:Thưa thầy, vậy dựa tiêu chuẩn nào để đánh giá là người có đức?
ĐÁP:Người có đức, trước hết phải có tâm thương yêu con người. Đồng thời biết tôn kính Thần Thánh, biết kính những người đáng kính, và vô cùng khiêm cung, không kiêu mạn. Từ công hạnh này có rồi thì vô số những đức hạnh khác sẽ mở ra dễ dàng. Rồi họ làm được nhiều điều phước chứ không gây tổn phước, đó là người có đức. Khi người có đức bắt đầu thành cái quả rồi, họ ở đâu cũng có người thương mến, quý trọng. Còn lúc cái đức chúng ta đang tu, nó chưa thành cái quả thì mình chưa được vậy. Tuy chúng ta vẫn đang tôn kính Tam Bảo, vẫn thương yêu con người, vẫn khiêm tốn, vẫn giúp đỡ… nhưng mình ở chỗ nào người ta cũng không quan tâm lắm. Họ không tôn trọng ý mình nhiều, tức là cái đức chưa thành cái quả.
HỎI:Thưa thầy, thế thì người hiền có đủ điều kiện là người có đức không?
ĐÁP:Ranh giới giữa người hiền và người có đức rất gần nhau, nên người ta hay nói hiền đức là như vậy. Người có đức vẫn là người hiền. Ngược lại, người hiền là người dễ có đức. 
Chúng ta gặp người hiền, dễ khởi tâm thương mến họ. Riêng người có đức, ngoài việc được cảm mến còn thêm sự kính trọng của người khác.

Posted in Tin tức sự kiện | Leave a comment