THIỀN – GIẢI PHÁP CHO SỨC KHỎE TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
A . DẪN NHẬP.
Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, “Sức Khỏe là tình trạng hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật.” Do vậy, một cơ thể không bệnh tật nhưng sống trong một môi trường xã hội có thể sẽ có khả năng bất ổn định, không thể nào bình an, khỏe mạnh được.
Từ đầu thế kỷ thứ 19, người ta cho rằng có nhiều vấn đề về sức khỏe lại đa phần có nguyên nhân từ những khiếm khuyết xã hội mà ra. Các khiếm khuyết này nếu được điều chỉnh thì sức khỏe sẽ tốt hơn.
Con người thường hay bị phiền não, đau khổ, thất vọng, chán chường, bất an, trống rỗng là vì có khuynh hướng hướng ngoại, phân biệt ta và người, hằng ngày nhìn trong gương thấy ta khác người, nhìn cái giả cho là thật. Ngay chính thân xác của chúng ta thay đổi từng giây từng phút, mỗi khoẳng khắc là hằng triệu tế bào chết đi, đào thải và hằng triệu tế bào mới sinh sản ngay trong cơ thể. Vì thế cần phải đẩy lui những phiền não không thật ra ngoài để thăng hoa trở lên an vui thanh thản hạnh phúc trở về với chân ngã, là những cái nằm bên trong con người chứ không ở đâu khác. Khi con người rơi vào tình trạng u mê, vô minh, vọng động thì Phật giáo đề xuất phương cách giải quyết là quán tưởng cái lý vô thường của vạn vật, có nghĩa không quá đam mê và chấp trước hay bám víu vào nó. Vì mọi vật đều theo lý nhân duyên, nhân quả mà kết hợp thành và rồi cũng theo đó mà tan đi giống như cát bụi trở về cát bụi. Mọi hiện tượng xuất hiện trên thế gian này ngày hôm nay rồi sẽ biến mất đi nay mai, không một sự vật nào tồn tại mãi mãi. Vậy tại sao chúng ta bám víu vào nó để rối đau khổ và sinh bệnh. Lẽ vô thường biến dịch và nhân quả của thiên nhiên là nguyên lý giúp chúng ta xây đắp một xã hội ý tưởng cho ngày mai .
Để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người trong thời đại ngày nay phải đối mặt trước nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây “Stress” về tâm lý này đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch và dẫn đến nhiều chứng bệnh nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Hành Thiền không những có thể giải tỏa những cảm xúc âm tính, cải thiện hành vi mà còn giúp tăng cường nội khí, nâng cao sức đề kháng và sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường.
Điều kiện tất yếu trong việc tu hành hay thiền định là bắt buộc ta phải có trái tim bình yên . Thế nhưng, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch khiến cơ thể dễ bị bệnh tật tấn công hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đang tiềm tàng. Trong những trường hợp này, việc giải toả Stress, điều hoà được cảm xúc phải là ưu tiên hàng đầu. Nói chung, thư giản hay căng thẳng, tập trung tư tưởng vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi người.
Chúng ta đi bác sĩ là vì chúng ta có phần đau nhức trong cơ thể. Bác sĩ không cho ta một chai thuốc đau nhức liền, mà trước tiên họ phải cố gắng tìm cho ra cái nguyên nhân gây ra đau nhức cho cơ thể, tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng nguy hiểm cho sức khỏe.
Theo bác sĩ Hasegawa ở Đại học Ossaka – Nhật Bản, “…tọa thiền phát triển sự tập trung dưới vỏ não và tạm ngừng hoạt động của vỏ não.” Bên cạnh đó, Viện Đại học Cologne – Đức cũng khẳng định rằng: “Thiền có tác dụng điều hòa trạng thái hoạt động của các tuyến nội tiết và của hệ thần kinh giao cảm làm cho cơ thể khỏe mạnh”. Do vậy, thiền là một phương pháp chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe không cần dùng thuốc .
Thiền là một phương pháp tập luyện có từ rất lâu đời ở phương Đông do Đức phật Thích ca thực hiện đầu tiên nhằm làm cho con người giải thoát được khổ đau, hài hòa được thân tâm, phát huy được trí tuệ của chính mình. Dưới góc độ khoa học, phương pháp thở của thiền có khả năng điều chỉnh lại được sự rối loạn, mất cân bằng của hệ thần kinh và não bộ.
Vậy chúng ta hãy tìm hiểu xem vì sao thiền là giải pháp hữu hiệu, có thể mang lại sức khỏe cho chúng ta, đặc biệt là trong thời đại của xã hội ngày nay?
B. NỘI DUNG.
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
1. Một số khái niệm về Thiền trong Phật học.
Từ Thiền của Việt nam hay Zen của Nhật bản đều được phiên âm từ “Ch’an” của Trung hoa. Những chữ này đều xuất phát từ chữ Dhyna, có nguồn gốc ở bộ kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Đây là một bộ kinh thuộc triết học Bà la môn đã có từ thời thượng cổ ở Ấn độ. Theo tư tưởng Ấn độ, phàm muốn hiểu được chân tướng của một sự vật ta phải hòa mình làm một với sự vật đó.
Thiền là quá trình tập trung tư tưởng, lặng lẽ suy tư, không để ngoại cảnh chi phối, là quá trình đồng nhất hóa với sự vật để hiểu được bản chất của nó. Thiền nguyên là một hình thức tu trì của những tông phái triết học ở Ấn độ. Sau khi Phật giáo ra đời, khoảng năm 520, Thiền được Bồ đề Đạt ma, một du tăng của Phật giáo truyền sang Trung hoa. Bồ đề Đạt ma nguyên là một tu sĩ thuộc Bà la môn giáo. Từ đây Thiền thuần lý và triết học của Ấn độ đã được giáo lý Phật giáo bổ sung và phát triển cả về nội dung lý luận lẫn phuơng pháp thực hành trong bối cảnh của truyền thống đạo học nguyên thủy của Trung hoa. Sau đó khi du nhập vào Nhật bản, Thiền lại được hòa trộn với tinh thần lễ giáo và nghệ thuật của Nhật bản. Như vậy Thiền được phổ biến sau này ở các nước châu Á đã hội tụ nhiều nét văn hóa đặc sắc của phương Đông. Đến khoảng đầu thề kỷ thứ hai mươi, do công của một giáo sư người Nhật, ông D.T. Suzuki, Thiền được giới thiệu sang các nước Anh, Pháp, Đức…
Vào giai đoạn này, sau những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại đã tiến thêm nhiều bước mới. Đời sống vật chất không ngừng được nâng lên nhưng tâm hồn con người dường như lại thêm lo âu, bất an hoặc cô đơn, trống rỗng. Thiền đã có mặt kịp lúc để lấp bớt khoảng trống này. Dưới cái nhìn duy lý và thực tiễn của người phưong Tây, Thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận và quảng bá rộng rãi như là một hình thức giáo dục đạo đức và tâm linh. Vượt qua khỏi ranh giới của tôn giáo, sự hợp nhất giữa thân và tâm của Thiền giúp giải quyết những vấn đề do tâm lý gây ra và là phương pháp chữa trị cho nhiều chứng bệnh của xã hội hiện đại để mang lại hạnh phúc và sức khoẻ cho con người. Cũng ở thời gian này, Tổ chức Y tế Thế giới đã đánh giá lại ý nghĩa của từ sức khỏe “Sức khoẻ là sự thoải mái hoàn toàn vể các mặt thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật”. Có lẽ vì những lý do này, khi chuyển ngữ sang phương Tây, người ta đã dùng từ “Meditation” để dịch từ Zen. “Meditation” có cùng ngữ căn “Mederi” với từ “Medicine” với hàm ý là một phương pháp chữa bệnh. Thiền là liệu pháp đối trị của những chứng bệnh tâm thể.
Việc thực hiện thiền từ hơn 2.500 năm nay theo Đức phật rất khó thực hiện vì những triết lý: hiểu sâu về chân tâm và vọng tưởng trong khi thiền nên nhiều người đã thực hiện theo cách hiểu của mình làm cho việc tu thiền có đến cả triệu phương pháp. Muốn dập tắt vọng tưởng, tức là những ý nghĩ miên man khởi lên trong đầu, chính vọng tưởng được coi là sự tự nói thầm, khi dừng được nói thầm trong đầu thì vọng tưởng dừng và tâm được an tịnh (tâm được yên). Năm 1982, khi thiền sư Thich Thông Triệu( viện chủ thiền viện Tánh Không ở Mỹ) cảm nhận được sự nói thầm (vọng tưởng) trong đầu đã làm chủ được vọng tưởng. Từ kinh nghiệm đó, thiền sư đã ngộ được mối liên hệ giữa hệ thống thần kinh và quá trình thiền. Mãi đến năm 2006, nhờ 2 nhà não học người Đức là Erb và Sitaran chụp hình não bộ mới biết được cụ thể của các vùng của não bộ. Theo kết quả nghiên cứu, người ta chia não bộ thành 2 vùng: vùng phía trước và vùng phía sau. Vùng phía sau đảm nhiệm tính “giác” (giác ngộ) của thiền. Cho nên khi thực hành thiền cần chú ý tập trung vào vùng có tính “giác” và để yên phần phía trước vì phần này hay gây ra vọng tưởng.
Từ phương pháp thở đó, do có liên quan mật thiết với hệ thần kinh (trung ương và hệ giao cảm) nên nó có khả năng điều chỉnh sự mất cân bằng của hệ thần kinh (theo y học cổ truyền, sự mất cân bằng này là sự mất cân bằng âm dương, mất cân bằng về hàn nhiệt gây ra các triệu chứng “hư thực” của các tạng phủ).
2. Khái niệm về Thiền trong y học.
Thiền là một truyền thống văn hóa đặc sắc của phương Đông. Do đó liệu pháp Thiền cũng phản ảnh đầy đủ tính chất “chỉnh thể” và “Trời người hợp nhất” của nền y học cổ truyền. Chỉnh thể hay nhất thể (holistic) là quan điểm xem con người là một tổng thể hợp nhất. Mỗi triệu chứng, mỗi bộ phận đều phải được xem xét và điều chỉnh trong mối tương quan chung nhằm mang lại sự cân bằng và hài hòa cho cả tổng thể.
Nói chung, theo quan điểm này thì sự nâng cao chính khí và sự hài hoà bên trong mới chính là nguồn gốc của sức khỏe. Chừng nào mà sự hài hòa còn chưa đạt được hoặc sức miễn dịch chưa được cải thiện thì sự cứu chữa chỉ là cục bộ hoặc tạm thời và sự biến mất của một triệu chứng sẽ có thể gây ra một triệu chứng khác ở một tổ chức khác. Do đó, với ý nghĩa hòa hợp hay hợp nhất giữa các tổ chức trong cơ thể, hợp nhất giữa thân và tâm và cuối cùng là giữa con người và vũ trụ, Thiền là đỉnh cao của liệu pháp chỉnh thể và cũng là chỗ gặp nhau giữa y học và các nền học thuật khác của phương Đông. Giống như những nhà khí công, những người hành trì Thiền lâu năm có định lực cao, trình độ khí hóa được nâng lên, có thể dùng năng lực Thiền để hóa giải bệnh tật hoặc chữa bệnh cho người khác.
Về mặt thần kinh, thông qua quá trình thư giản và nội quán, Thiền duy trì trạng thái yên tĩnh của đại não, có thể điều hòa thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh và tự hoàn thiện vốn có của hệ thần kinh trung ương. Đây cũng là một cơ chế mang tính chỉnh thể vì sự hài hòa và hoàn thiện của hệ thần kinh sẽ tác động trở lại để điều hòa hoạt động nội tiết, nội tạng, tái lập tình trạng khí hóa bình thường để phục hồi sức khỏe. Cũng vì lý do này, những liệu pháp thư giãn & Thiền không chỉ có hiệu quả trên những bệnh tâm thể mà còn thông qua việc nâng cao sức miễn dịch và cải thiện lưu thông khí huyết để phục hồi dần những cơ quan đã bị tổn thương.
Hiện nay có một phương pháp Thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại nhiều trường đại học Y ở phương Tây, kể cả một số trường đại học lớn ở Mỹ như Umass, Standford, Duke, Virginia, San Francisco,… Đó là MBSR. MBSR là những chữ viết tắt của thuật ngữ “Mindfulness Based Stress Reduction”, tạm dịch là “giảm Stress dựa trên sự tỉnh giác”. MBSR được xem là một liệu pháp bổ sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khỏe. Đây là một kỷ thuật Thiền định nhằm phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều gì đang xảy ra nơi thân hoặc tâm, qua đó có thể làm chủ được bản thân và điều hòa cảm xúc. MBSR đã được giáo sư Jon Kabat – Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm sàng từ đầu những năm 1970.
Hiện nay Trung tâm Y học và Giáo dục Tỉnh giác CFM (the Center For Mindfulness in Medicine, Healh Care and Society) thuộc trường Đại học Y Massachusettes (UMASS), được xem là cơ sở y tế lớn nhất và lâu đời nhất ở Mỹ trong lĩnh vực quảng bá, giáo dục và điều trị bằng MBSR. Một liệu trình MBSR tiêu chuẩn kéo dài 8 tuần lễ. Chương trình gồm hai phần. Phần huấn luyện tại lớp mỗi tuần một lần, mỗi lần một buổi từ 2 giờ đến 2 giờ rưỡi. Riêng lần cuối cùng thường được tổ chức vào cuối tuần và kéo dài khoảng 7 hoặc 8 giờ. Phần tự thực hành tại nhà khoảng 1 giờ mỗi ngày. Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị này. Kết quả cho thấy MBSR giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức năng, dạ dày, ruột, chứng đau nữa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, âu lo, hoảng loạn,… Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều trị bằng MBSR.
Nói chung trong quá trình hành Thiền, “thần tĩnh tức âm sinh”, tâm không duyên ra ngoài sẽ giữ được khí, ngưng thần định ý tại Đan điền sẽ gia tăng chân khí. Do đó công năng dưỡng âm tồn thần và nâng cao chính khí của tọa Thiền hoàn toàn phù hợp với tinh thần “nhiếp sinh” của Nội kinh, có thể chữa được bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và giúp gia tăng sự thích nghi của cơ thể đối với những điều kiện thay đổi của môi trường sống.
3. Liệu pháp Thiền và những suy nghĩ tích cực
Lòng tham là một hạt giống có sẳn từ lâu lắm rồi, trãi qua vô số kiếp, nó đã tích lũy và mọc rễ trong tâm mọi người và chi phối các hành động và tư tưởng của họ. Người biết tu thiền phải biết tu tập nội quán để biết rõ các yếu tố chi phối mình và tìm cách giải thoát ra khỏi các ràng buộc của nó .
Khi xem một vở kịch tốt hoặc một phim hay, trong những lúc cao trào, ta thường bị thu hút vào vở diễn hoặc vai diễn. Thương cảm, rơi lệ hoặc bức xúc, tức giận,… Trong những phút giây đó, không chỉ người diễn viên mà cả người xem đều đã như hóa thân thành một người khác chứ không còn là người diễn viên hoặc bản thân chúng ta của những lúc bình thường. Những truyền thống tư tưởng phương Đông đều quan niệm thân và tâm là một thể thống nhất. Suy nghĩ và cảm xúc luôn tác động đến phần thể xác. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn cả nhận thức và từ nhận thức sẽ dẫn đến hành động. Chính những cảm xúc và nhận thức lâu ngày đã hình thành nên tập tính và tình trạng sức khỏe ở mỗi người. Do đó có thể nói mỗi người chính là những điều mà người đó suy nghĩ. Mỗi người trong chúng ta vì những lý do khác nhau đã vô tình bị tập nhiễm một số hành vi mà chúng ta không muốn nhưng đã không thể cưỡng lại được. Kỹ thuật tự ám thị (auto-suggestion) thông qua thiền định có thể giúp cải thiện tình trạng này. I.P. Paplov một nhà sinh lý học nổi tiếng của nước Nga đã chứng minh rằng mọi phản xạ thần kinh dù cao hay thấp, mọi thói quen, quá trình rèn luyện, học tập, lao động đều là những quá trình hình thành nên những phản xạ.
4. Thiền dưới cái nhìn của nhà khoa học
Một nhóm các nhà khoa học của Phòng thí nghiệm Các chức năng của não ở Wincosin, đứng đầu là nhà khoa học chuyên nghiên cứu về thần kinh Richard Davidson đã quét hình ảnh bộ não của một thiền sư và nhận ra rằng não của ông hoạt động vượt trội hơn não của một vận động viên chuyên nghiệp khi thi đấu đỉnh cao.
Trong khi các nhà khoa học không lý giải nổi thiền hoạt động như thế nào thì các nghiên cứu lại chỉ ra rằng thiền giúp cho não hoạt động tốt hơn và một điều rằng thiền giúp não tạo ra một chất nhằm chống lại stress.
Khi tập thiền, cơ thể tiết ra nitric oxide, một hóa chất được các công ty dược bào chế thuốc hạ huyết áp. (ở đây cần phân biệt rõ nitric oxide khác với nitrous oxide là một thành phần trong thuốc gây mê). Chúng (nitric oxide) hạ huyết áp bằng cách làm giãn nở các mạch máu nhằm làm giảm áp lực máu chảy về tim.
“Có thể nói rằng khi bạn tập thiền thì huyết áp sẽ giảm xuống” nhà tâm sinh học Jeffrey Dusek của trường Y khoa Harvard nói “Tác dụng của việc tập thiền cũng giống như tác dụng của thuốc là đều giải phóng nitric oxide. Do đó chúng tôi đang tìm hiểu cơ chế hoạt động sinh học của thiền.”
Thiền và tâm lý học
Hành vi stress của con người có thể tiến triển từ tổ tiên người hang động của chúng ta khi họ phải sống trong một môi trường đầy đe dọa thời nguyên thủy. Khi đó họ phải sống trong sự căng thẳng khi chung quanh họ toàn là những loài thú săn mồi khổng lồ. Ngày nay, con người cũng sống trong sự căng thẳng chỉ khác biệt là không còn những loài thú dữ mà là những mệnh lệnh từ người khác.
Nhà tâm lý học Ryan Niemiec đã ứng dụng thiền vào các phương pháp chữa trị bằng tâm lý của mình. “Bởi vì thiền giúp con người nhận biết được thực tại, nó mang đến cho con người cách làm việc với chính mình để nhận biết được những vấn đề đang phát sinh trong cơ thể và trong trí óc.”
“Thiền giúp nhận diện những điều mà một số người gọi là “phi công tự động” tức là chúng ta cứ trôi theo dòng đời một cách vô hồn mà không nhận diện được những gì đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ”. ”Và khi đã nhận diện được chúng, thiền giúp chúng ta biết an trú trong hiện tại, biết quý trọng từng khoảnh khắc đang diễn ra và giúp ta sống hạnh phúc hơn. Đó mới chính là thiên đường mà chúng ta hằng mơ ước”.
II. Sức khỏe con người ngày nay: thực trạng và giải pháp
1. Thực trạng
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, đó là những điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi cho sinh hoạt hang ngày của con người tại nơi mà họ sinh sống và làm việc, chẳng hạn, sự bất ổn về kinh tế, xã hội, chiến tranh; các điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển của trẻ em; sự không an toàn việc làm cho công nhân; môi trường sinh sống ô nhiễm; không đồng đều trong việc tiếp nhận chăm sóc y tế; kém phương thức phòng ngừa bệnh truyền nhiễm; quá nhiều tệ đoan xã hội đưa tới sinh hoạt tình dục bừa bãi, lạm dụng hóa chất có hại, cờ bạc; thực phẩm xấu, dinh dưỡng không đúng cách; kỳ thị chủng tộc, giới tính, tuổi tác…Cá nhân con người không giải quyết hết đựơc các yếu tố này mà đây phải là công việc của tập thể, trên mức độ cộng đồng, quốc gia.
Xin cùng tìm hiểu về một số vấn đề này qua các tài liệu của Tổ Chức Y Tế Thế giới. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) , trên thế giới cứ 4 người thì 1 người có một hay nhiều rối loạn tâm thần, hoặc hành vi trong suốt cuộc đời. Hiện thế giới có khoảng 450 triệu người có các rối loạn tâm thần, trong đó 120 triệu bệnh nhân trầm cảm, 50 triệu bệnh nhân động kinh, 40 triệu bệnh nhân tâm thần phân liệt…
Ở nước ta, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự phát triển nhanh của tiến bộ kỹ thuật đã tác động mạnh mẽ đến sức khỏe tâm thần. Chỉ tính riêng 10 bệnh tâm thần thường gặp, là: tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ ở người già, loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn tâm thần do rượu, ma túy thì có khoảng 15% dân số, tương đương với khoảng 13 triệu người.
Gần đây, một số nghiên cứu có quy mô nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ các rối loạn tâm thần khoảng 20-30%. Hiện sức khỏe tâm thần được WHO xếp thứ 4 trong các vấn đề sức khỏe. Dự kiến đến năm 2020, sức khỏe tâm thần sẽ được xếp hạng thứ 2 sau các bệnh về tim mạch. Nguyên nhân theo WHO là do những yếu tố: điều kiện cuộc sống (nghèo khổ kéo dài), thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn việc làm; công việc quá tải; các thay đổi nhanh chóng về kinh tế – xã hội, xung đột chính trị; và ảnh hưởng của thiên nhiên, đặc biệt là sau các thảm họa.
2. Nguyên nhân và giải pháp
Hiến chương năm 1948 của Tổ Chức Y Tế Thế Giới cũng đã nhấn mạnh ở lãnh vực này và đã hết sức tiếp tay với các quốc gia hội viên. Một Ủy Ban Quốc Tế về Các Vấn Đề Xã Hội đã đựơc thành lập nhằm vào việc giải quyết các khó khăn này. Vì sự chăm sóc y tế chu đáo có thể kéo dài sự sống trong một số bệnh tật nhưng hoàn cảnh kinh tế xã hội bất ổn lại tạo ra nhiều khó khăn, bất ổn cho sức khỏe hơn. Nguyên nhân có thể là:
2.1 Giai tầng xã hội.
Càng nghèo khó, thấp vế trong nấc thang xã hội thì bệnh hoạn càng tăng, càng lâu bình phục và tỷ lệ tử vong cũng cao. Kinh tế kém phát triển là nguyên nhân của sự căng thẳng, bệnh tim, loét bao tử, tiểu đường loại 2, viêm xương khớp, vài loại ung thư và sớm lão hóa. Nhà ổ chuôt kém vệ sinh, lương thực không đầy đủ, ít giáo dục, gò bó chịu đựng trong những việc làm vừa không an toàn vừa bất trắc chính là những nguyên nhân dẫn đến suy giảm về sức khỏe. Để giảm thiểu các yếu tố này, chính sách y tế phải nâng cao giáo dục thiếu niên, ồn định việc làm cho dân chúng, giảm cách biệt giầu nghèo cũng như san bằng bất công trong việc chăm sóc sức khỏe toàn dân.
2.2 Căng thẳng .
Các hoàn cảnh tâm lý xã hội xấu có thể tạo ra các căng thẳng triền miên cho con người. Họ sẽ trở nên luôn luôn lo sợ , không đối phó được. Khi nói tới căng thẳng tâm thần là ta nghĩ tới dùng thuốc an thần, giảm buồn để chữa trị. Nhưng điều này chỉ mang tính nhất thời. Chúng ta cần phải nỗ lực ngăn chặn sự xuất hiện các căng thẳng này bằng hỗ trợ, khích lệ các sinh hoạt cộng đồng, giảm thiều bất công vật chất, tinh thần cũng như tăng cường giáo dục.
2.3 Đặc quyền xã hội.
Sự nghèo khó, kỳ thị và đặc quyền xã hội có ảnh hưởng lớn tới tình trạng sức khỏe. Nghèo khó vẫn tồn tại ở các quốc gia giầu có, phát triển. Lối sống, điều kiện nơi ở, và nơi làm việc có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe và tuổi thọ.
Một chính sách công bằng xã hội về lương bổng, sự dễ dàng có việc làm, giảm nghèo khó, giảm bất công xã hội, phổ biến y khoa phòng ngừa, nâng cao giáo dục đều có thể giúp con người có sức khỏe tốt hơn.
2.4 Việc làm
Các căng thẳng, khó khăn trong việc làm đều là rủi ro của gia tăng bệnh tật. Thoải mái trong việc làm giúp công nhân có sức khỏe tốt hơn.
Căng thẳng có thể là do làm việc quá sức, làm nhiều giờ, công việc không thích hợp với khả năng, không được góp ý kiến vào thiết lập kế hoạch việc làm, môi trường làm việc có nhiều nguy hiểm, không được hướng dẫn về việc làm, không được đối xử xứng đáng với công tác kiêm nhiệm.
Do vậy, điều quan trọng là cần cho công nhân việc làm và nơi làm việc an toàn; chế độ thăng thưởng phải công minh, quản trị hữu hiệu; nơi làm việc có dịch vụ y tế tối thiểu để chăm sóc sức khỏe nhân viên, có tư vấn xã hội để giúp nhân viên giải quyết vấn đề liên quan tới việc làm và gia đình; thời khóa biểu làm việc thích hợp với khả năng và sức khỏe công nhân.
2.5 Tình trạng thất nghiệp
Sự lo sợ sẽ bị mất việc làm và sống trong tình trạng thất nghiệp gây ra nhiều ảnh hưởng xấu cho sức khỏe không những của công nhân mà cả gia đình họ nữa. Thất nghiệp đưa tới khủng hoảng tài chính, nợ nần, đời sống vật chất suy giảm, thiếu dinh dưỡng, suy nhược dễ bị bệnh tâm thần cũng như thể chất. Cho nên, cần có các chính sách ngăn ngừa thất nghiệp, giảm thiểu khó khăn của công nhân khi mất việc bằng trợ cấp xã hội và tạo công ăn việc làm cho nhân dân.
2.6 Tương quan hỗ trợ xã hội
Con người không những không thể sống lẻ loi trong cộng đồng mà còn cần sự hỗ trợ của cộng đồng này. Sự cô lập với xã hội đưa tới trầm cảm, buồn phiền, bệnh hoạn kinh niên, sớm tử vong. Do vậy, có thể thấy khi có bạn bè tốt, có sự hỗ trợ xã hội hợp lý, sức khỏe có thể được nâng cao sức khỏe tại nhà, nơi làm việc cũng như trong cộng đồng.
2.7 Ghiền rượu thuốc
Lạm dụng rượu, thuốc lá, thuốc cấm nâng cao tỷ lệ tử vong vì bệnh tật, tai nạn. Dùng thuốc rượu có thể tạm thời giải tỏa khó khăn về tinh thần, kinh tế nhưng trong trường kỳ, vấn đề lại trầm trọng hơn. Rượu đưa tới ung thư gan; thuốc là gây ung thư phổi; thuốc cấm tạo bệnh tâm thần. Ngoài ra ảnh hưởng xấu của rượu thuốc cũng đưa tới xáo trộn gia đình, tội phạm xã hội.
2.8 Thực phẩm
Dinh dưỡng đầy đủ là yếu tố căn bản cho một sức khỏe tốt. Thiếu thực phẩm các loại đưa tới suy dinh dưỡng và một số bệnh tật. Tuy nhiên, ăn uống quá độ cũng có thể dẫn tới nhiều bệnh về tim mạch, tiểu đường, ung thư, mập phì, sâu răng. Thực phẩm có nhiều chất béo, đường tinh chế gây ra mập phì nhiều hơn, nhất là ở lớp người kém lợi tức. Cho nên, điều quan trọng là chúng ta cần biết các thông tin về thực phẩm, cách thức nấu nướng, chế độ dinh dưỡng đúng đắn.
III. ỨNG DỤNG THIỀN TRONG TRỊ BỆNH.
Theo Phật giáo bệnh phần lớn phát sinh từ bên trong con người do mất cân bằng hài hòa về tinh thần, tình cảm, dinh dưỡng có nghĩa do thân và tâm sinh ra hơn là do từ bên ngoài mang đến. Từ cách nhìn như nêu trên cho thấy cách chẩn bệnh và chữa trị của Phật giáo khác biệt với y học tây phương ở điểm y học tây phương đưa ra thuốc chữa khi nào bệnh phát ra, có triệu chứng đau yếu bộ phận nào đó trên cơ thể.
Thuốc chỉ có tác dụng làm bớt đi tình trạng đau đớn, chặn đứng phần nào sự lộng hành của vi khuẩn trong khoảng thời gian nào đó mà thôi, chứ nó không diệt hết căn nguyên, nguồn gốc sinh bệnh. Một phần bệnh nhân có tâm lý là muốn mau hết bệnh ngay, nhưng ít khi chịu tìm hiểu nguyên nhân sinh ra bệnh. Bởi vì bệnh phát sinh ra không phải một sớm một chiều mà do quá trình dài qua bao năm tháng rồi mới hình thành. Do đó không có triệu chứng không hẳn là không có bệnh.
Hơn nữa, y học tây phương phần lớn dựa vào những cái gì cụ thể, chẳng hạn như hình ảnh do tia quang tuyến, những rọi chiếu qua các bộ máy y khoa chụp được. Nền y khoa hiện đại đổ dồn rất nhiều công sức trí tuệ, tài chánh vào trong những lãnh vực nghiên cứu như bệnh lý học, Dược phẩm học, Ðề kháng học và Giải Phẫu Học cùng những dụng cụ y khoa hiện đại, tối tân trong mục đích tìm ra căn nguyên bệnh tật.
Nhiều máy móc tối tân phát minh ra đời, nhiều loại thuốc tinh vi mắc tiền được điều chế ở những công ty dược phẩm nổi tiếng, thế mà số bệnh nhân không giảm thiểu, mà còn có chiều hướng gia tăng. Lý do tại sao? Phải chăng có những căn bệnh mà dụng cụ y khoa hiện đại vẫn không thể nhìn thấy được. Phải chăng nền y học hiện đại quá chú trọng vào triệu chứng, vào phần thân thể, mà quên đi phần tâm bệnh và nghiệp bệnh, quên đi hay xem nhẹ nguồn gốc sâu xa tạo ra bệnh tật nằm ngay trong tâm tư đời sống con người? Bệnh phát sinh từ nghiệp chướng từ lối nghĩ, cách tư duy, từ cách sống, lời nói, việc làm v.v. Có nghĩa thân, khẩu, ý chưa được thanh tịnh. Ðây cũng là vấn đề mang tính chất thời đại một số nhà thức giả phương tây đã đang cố thử tìm tòi tính chất tương quan giữa niềm tin tôn giáo và sức khỏe.
Ðối với Phật giáo người đi tầm đạo hay hành giả việc quan trọng trước hết là để ý đến thân thể “rèn luyện, thận trọng chăm lo thân thể là điều căn bản trong việc tu hành Phật đạo. Hơn hết tất cả những gì khác, bước đầu tiên mang tính chất quyết định giải phóng chúng ta, đó là thoát ra khỏi ảo tưởng về bản ngã, đoạn tuyệt những cái quá si mê, quá yêu thương bản thân, chấp trước vào thân thể, và phải luôn luôn để ý đến thân thể”
Theo Phật giáo cơ thể con người nói riêng và toàn thể thiên nhiên vũ trụ do tứ đại (Ðịa, Thủy, Hỏa, Phong) có nghĩa do đất, nước, gió và lửa kết hợp thành. Mỗi thành tố mang ý nghĩa đặc biệt và có tương quan với những bộ phận trong thân thể. Chúng ta hãy đi lượt qua tính chất mỗi thành tố này.
1.Thân Bệnh
1. Thành tố đất mang đặc tính nặng, có trọng lượng gồm có các bộ phận như: não bộ, lá lách, bao tử. Khi thành tố này mất cân bằng sẽ sinh ra bệnh làm thân thể trở nên khô gầy.
2. Thành tố nước có đặc tính ẩm ướt, mang trạng thái lưu động, gồm có các cơ quan như thận, bàng quang và máu huyết. Khi cơ quan này mất cân bằng việc ăn uống và việc tiêu hóa sẽ khó khăn.
3. Thành tố hỏa mang tính chất nóng, dùng để đốt cháy, có nhiệt độ cao, biểu tượng cho hệ thống vận chuyển máu, gồm có các cơ quan như gan và túi mật, mất cân bằng thành tố này hay sinh táo bón, lạnh nóng bất thường, hay đau khớp xương.
4. Thành tố khí có đặc tính nhẹ như không khí, biểu tượng cho hệ thống hô hấp, và đây cũng chính là chiếc xe đưa trạng thái Tâm di động. Thành tố này chủ yếu hoạt động ở tim, phổi, ruột và hệ thống não bộ. Khí có chức năng tạo năng lượng di động khắp toàn thân, giúp cho máu vận chuyển điều hòa, duy trì sự sống hấp thụ chất dinh dưỡng tiêu hóa thức ăn đào thải chất độc ra ngoài, chuyển hoán tế bào, và giúp cho sự cảm nhận được trong sáng.
Chính vì những đặc tính nêu trên, một khi sự vận chuyển bốn thành tố không còn điều hòa khi có đó triệu chứng bệnh. Nếu đi sâu vào phân tích bệnh trạng triệu chứng thân bệnh chắc hẳn cần nhiều giấy mực hơn nữa, ở đây xin chỉ lượt qua một số điểm quan trọng.
Thân bệnh phát sinh là do tích lũy những chất độc bao gồm ý nghĩa tinh thần là tham, sân, si và ý nghĩa vật thể là đem vào trong cơ thể những thức ăn hằng ngày không tốt cho cơ thể mà chúng ta không biết hay không để ý vì do tập quán hay thói quen. Rồi theo dòng thời gian những chất độc này không được đào thải hết ra ngoài tích lũy lại trong người và khi đó bệnh hình thành.
Tại sao những chất độc đó không tạo thành một loại bệnh? Có thể là do cơ thể mỗi con người chúng ta không ai giống ai, có người yếu về bộ phận này nhưng lại mạnh về bộ phận khác, một phần do yếu tố di truyền (genetic) từ cha mẹ truyền lại. Chất độc tụ lại trong người chỉ sinh bệnh khi nó vượt quá giới hạn nào đó mà cơ thể không còn chịu đựng được nữa mà thôi, cũng vì thế mà có người sinh ra bệnh về tim, về thận, về ruột.
Cho nên, khi nhận thấy được nguyên nhân của thân bệnh là do thiếu vận động, cẩu thả, bừa bãi trong việc ăn uống hằng ngày, chúng ta cần lưu ý hơn về vấn đề dinh dưỡng và ẩm thực.
Về thực phẩm thì ăn ngày hai bữa là khá đầy đủ để có sức khoẻ tốt. Tránh ăn vào buổi tối vì phần này cung cấp phần dư thừa đáng kể cho cơ thể và cũng không thích hợp cho người thực tập thiền hoặc những hoạt động có liên quan đến tinh thần.
Các loại thực phẩm góp phần đem lại sức khoẻ tốt bao gồm các loại rau cải, các loại đậu, trái cây, ngoài ra còn có các loại thực phẩm từ sữa như bơ, sữa chua, sữa đặc. Trong giáo lý Phật giáo, nước được xem như là một nhân tố tối cần thiết trong cuộc sống của con người. Uống nước không chỉ để thỏa mãn cơn khát mà còn để duy trì mạng sống. Trái cây và nước trái cây cũng thường được đề cập. Mặc dù không cấm triệt để việc ăn thịt cá nhưng ưu tiên cho việc ăn chay chủ yếu vì sức khoẻ.
Để có được cuộc sống tốt đẹp nhất, đức Phật dạy chúng ta phải sắp xếp lịch sinh hoạt hàng ngày theo một thời khóa đều đặn. Thời khóa hàng ngày của đức Phật chia làm năm phần. Tập thể dục bằng cách đi bộ, tắm rửa, nghỉ ngơi, thời gian giảng dạy và thiền định.
2. Tâm Bệnh
Theo Phật giáo “Bệnh hoạn nơi tâm hồn chúng ta phần lớn là do thói quen ôm vào những cái không phải của chính mình như của chính mình. Bản tính con người chúng ta hay giành lấy những gì có thể nhìn thấy hay sờ mó được trên thế gian này. Từ những vật gọi là “của tôi” đi kèm theo nó là những trói buộc, từ đó con người dần dần xa rời bản ngã chân thực, thay vào đó con người phải trả cái giá cho nó là mang tâm trạng sợ hãi lo âu..”
Khi nói đến tâm bệnh thì không thể nào không đề cập đến ba thứ độc hại tham, sân, si là những thứ luôn luôn tiềm ẩn trong con người chúng ta. Vậy thì những điều này gây ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe cũng như bệnh tật. Chúng ta hãy thử tìm hiểu từng yếu tố một.
2.1 Tham
Theo ý nghĩa tinh thần cũng như vật chất tham là trạng thái ham muốn thật nhiều vượt ra ngoài khả năng cũng như nhu cầu cần thiết. Chẳng hạn như ăn quá nhiều cũng có khả năng sinh bệnh. Ðối với những người hay ăn và uống những thức ăn ngọt có nhiều đường rất dễ sinh ra bệnh tiểu đường hay ăn nhiều quá mà không vận động, tập thể thao cũng dễ sinh bệnh mập phì.
Ngoài yếu tố lấy vào trong thân thể quá độ nguồn năng lượng, chất ngọt, người ta còn tìm thấy những người có nhiều ưu phiền, đau khổ tinh thần, căng thẳng quá độ về công việc, đời sống gia đình v.v cũng dễ sinh ra bệnh này, không kể đến yếu tố di truyền. Thêm vào đó mối ưu tư về tài chính do tiêu sài hoang phí quá độ chồng chất theo năm tháng cũng dễ sinh ra bệnh.
Ngay như về mặt tri thức, người quá tham lam muốn nhồi nhét thật nhiều kiến thức, sự hiểu biết vào trong đầu trong khoảng thời gian ngắn cũng dễ sinh ra bệnh tâm thần. Với những người còn quá trẻ tu thiền chỉ đọc qua vài quyển sách, một số lý thuyết muốn thực hành để chứng ngộ ngay chưa hiểu rõ thấu đáo về ngay chính bản thân cũng rất dễ sinh tẩu hỏa nhập ma rồi đưa đến hủy hoại thân thể.
Ngoài ra chúng ta còn thấy những người sống buông thả chạy theo cảm xúc của ngũ quan một cách quá đáng cũng dễ sinh bệnh. Theo Phật giáo người quá đam mê vào hình tướng dễ sinh ra bệnh về gan, quá đam mê vào âm thanh dễ sinh bệnh về thận, quá đam mê vào mùi vị dễ sinh bệnh phổi, quá đam mê vào khẩu vị dễ sinh bệnh về tim và quá đam mê vào xúc giác dễ sinh bệnh thuộc về lá lách. Vì thế cân bằng trong đời sống không quá độ cả về tinh thần lẫn vật chất là điều quan trọng trong tu hành theo Phật giáo.
2.2 Sân
Sân là trạng thái ghét cay ghét đắng, giận dữ một trong những yếu tố gây tác động không nhỏ đến sức khỏe, nhất là cơ năng thuộc về tim và gan. Trong kinh Ðại Bát Nhã (Mahaprajnaparamita) giảng rằng “sân hận là trạng thái cảm xúc độc hại nhất so với tham lam và ngu si”. Sự giận dữ gây tác hại vượt lên trên mọi tác hại khác. Theo kinh Ðại Bát Nhã trang số 98 đau đớn gây ra, giận dữ là trạng thái khó chế ngự nhất. Về mặt tâm lý giận dữ cũng là tâm trạng khó chữa trị nhất.
Theo bệnh lý học người khi nổi giận sẽ tác động vào hệ thần kinh não, tạo mạch máu co cứng lại, đưa áp xuất máu tăng cao, từ đó dễ làm tim ngừng đập bất thình lình. Trạng thái giận dữ có thể phát xuất từ nhiều nguyên nhân như đời sống quá căng thẳng, cô đơn, ưu phiền, tâm trạng thù địch, gặp nhiều điều không vừa ý, nhìn cuộc đời với tâm trạng chán chường v.v. Cộng vào đó với tình trạng thiếu cân bằng dinh dưỡng, ăn quá nhiều chất béo, ít vận động cũng dễ gây bệnh tim.
Theo y học Ðông phương nóng giận không chỉ gây tác động đến tim còn ảnh hưởng xấu đến gan bộ phận thuộc về tạng và mật thuộc về phủ.
2.3 Si
Về mặt triết tự theo Hán ngữ chữ Si thuộc về bộ Nạch có nghĩa tật bệnh, kèm theo với chữ “nghi” có nghĩa là ngờ, lòng còn bán tín bán nghi chưa tin và theo Anh ngữ dịch là ignorance. Như vậy Si là trạng thái bệnh hoạn thuộc về trí não, ở trong điều kiện chưa hiểu thấu đáo, rốt ráo dễ rơi vào tâm trạng nghi ngờ, với trong hoàn cảnh nào đó cũng có nghĩa là ngu dốt. Danh từ này thường hay dùng trong Phật giáo có nghĩa trạng thái u mê, không sáng suốt.
Khi con người rơi vào tình trạng đau ốm thì lại càng thiếu minh mẫn, và không nhìn thấy căn nguyên của bệnh tật, vả lại tâm lý người bệnh có khuynh hướng tìm phương cách chữa trị theo cách “mì ăn liền”, có nghĩa làm sao hết đau, hết bệnh ngay. Từ đó dễ đưa đến hành động nông nổi có hậu quả xấu cho sức khỏe. Nhân đây cũng nói qua về chủ trương tu thân của nho giáo, người muốn tu thân phải làm cho tâm ngay thẳng, muốn cho tâm ngay thẳng cần phải có Ý cho Thành, muốn cho Ý thành cần phải Trí Tri tức phải hiểu biết tường tận, muốn hiểu biết tường tận cần phải tìm rõ nguồn cội sự vật. Ðây cũng là phương pháp để thoát ra khỏi trạng thái.
Nền y học hiện đại có khuynh hướng chú trọng vào cách chữa trị những đau đớn về thể xác, giải phẫu, thay ráp tim, thận v.v, điều chỉnh các cơ năng dường như mang tính chất sửa chữa một bộ phận nào đó trong một cỗ máy phức tạp, mà coi nhẹ căn bệnh có tính chất tâm lý, tình cảm hay tinh thần, thiếu cái nhìn toàn diện. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng, tác dụng hổ tương lẫn nhau. Các nhà Y khoa đều công nhận rằng trạng thái nóng giận, buồn bã, quá vui, quá buồn đều có tác dụng không tốt cho sức khỏe của thân thể.
Theo những nghiên cứu y-học cho thấy những người ở trong tình trạng giận, buồn, không vui hay căng thẳng quá độ, não bộ tiết ra chất hormones gọi là độc tố adrenaline, nếu không là adrenaline đi nữa cũng là những độc tố có hại cho cơ thể. Do đó tình trạng mất thăng bằng về tình cảm kéo dài sẽ gây ra tai họa cho cơ thể, đưa đến tình trạng càng thêm khó khăn cho việc chữa trị. Trong khi đó cũng theo kết quả nghiên cứu khoa học, những người ngồi thiền định, hay trong trạng thái thư thái, tập trung tư tưởng hệ thống não bộ tiết ra chất hóa học giúp cho tâm hồn thật sự an bình, không còn căng thẳng, tiêu cực.
3. Nghiệp Bệnh
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa đích thực của nghiệp là gì? Nghiệp được dịch sang từ tiếng Phạn gọi là karma, có ý nghĩa hành vi, tư tưởng của mỗi cá nhân, từng con người trong tiền kiếp và hiện tại, từ đó hình thành con người ngày hôm nay. Người Việt thường hay nói “gieo gió gặt bão” hay là “nhân nào quả đó” phản ảnh phần nào quan niệm về “nghiệp”.
Trong “Chỉ Quán Tọa Thiền” có viết “Nếu nghiệp tội là sát sanh thì gan và mắt bệnh. Nếu nghiệp tội do uống rượu thì tim và miệng bệnh. Nếu nghiệp tội là dâm dục thì thận và tai bệnh. Nếu nghiệp tội nói dối thì lá lách và lưỡi bệnh. Nếu nghiệp tội là trộm cắp thì phổi và mũi bệnh.”
Ðiều này nói lên tính chất tương quan mật thiết không thể nào tách rời giữa thân, khẩu và ý. Trong ba thành tố hình thành con người, thành tố ý là chủ đạo, là nguồn gốc để đưa đến lời nói, và sau đó là việc làm. Ðức Phật cũng nêu thêm về yếu tố cha mẹ, tổ tiên, ẩm thực tức dinh dưỡng và tri thức.
Khái niệm hình thành con người ngoài những yếu tố trên, còn có thêm tính chất ý chí tự do trong cuộc sống và kèm theo đó con người bị chi phối bởi quy luật nhân duyên, vô thường, vô ngã và nhân quả.
Trong Kinh Pháp Cú có nói:
“Làm điều ác tự chính bạn trở lên ô uế
Không làm điều ác, tự chính bạn trở lên thanh tịnh.
Tự mỗi người chúng ta làm cho chính chúng ta trở lên thanh tịnh, hay trở thành ô uế.
Không ai có thể làm người khác trở lên thanh tịnh.”
Từ câu kinh trên cho thấy bệnh tật là do tự chính mỗi người chúng ta tạo thành chứ không ai khác, có thể do túc nghiệp hành vi trong quá khứ, hay trong hiện tại. Khi hiểu được nguyên nhân rồi, thì câu hỏi đặt ra là làm sao chữa trị căn bệnh.
Trong hành Thiền, việc hóa thân, việc đồng nhất hóa với một sự vật mới, một ý niệm mới hoặc một con người mới đã được tái hiện liên tục và nhiều lần trong một điều kiện tâm lý đặc biệt. Điều kiện tâm lý đặc biệt chính là tình trạng thư giãn hoặc nhập tĩnh khi mà não trở nên nhạy cảm khác thường trong việc tiếp nhận và hoạt hóa những thông tin liên quan, đến những ý niệm hoặc hình ảnh được gợi ra. Nói cách khác, khi ở vào tình trạng thư giãn ta có thể dùng lời nói hoặc những hình ảnh tưởng tượng thích hợp để cải thiện những tình trạng tâm lý hoặc vật lý của cơ thể, những điều mà trong điều kiện bình thường ta không thể thực hiện được. Hiệu ứng này thường được vận dụng trong các phương pháp dưỡng sinh, khí công, thôi miên, tự ám thị và cả trong nhiều nghi thức tôn giáo. Ví dụ, bình thường ta không thể ra lệnh hoặc tự nhủ để nhịp tim chậm lại hoặc huyết áp giảm xuống. Tuy nhiên, trong điều kiện thư giãn hoặc lúc thiu thiu ngủ nếu ta “thấy” hoặc “nghĩ” rằng tim đang đập chậm lại hoặc huyết áp đang hạ xuống thì tần số tim sẽ giảm và huyết áp sẽ hạ. Hãy lưu ý từ “thấy” mà không phải là “nhìn”. Từ “thấy” hoặc “nghĩ” ở đây hàm nghĩa không có sự phân tích hoặc cố gắng về mặt ý thức. Đây là một nguyên tắc quan trọng của Thiền cũng như của sự tự ám thị. Nguyên tắc này có thể được gọi một cách vắn tắt nhưng khá chính xác là sự tập trung không căng thẳng. Tập trung vào một từ khóa, một câu ám thị, hoặc một cảnh vật… nhưng phải ở trong điều kiện tĩnh lặng và không căng thẳng. Chính sự tĩnh lặng và không căng thẳng giúp duy trì tình trạng nhập tĩnh đồng thời nâng cao tính nhạy cảm trong việc tiếp nhận và hình thành nên những cung phản xạ mới.
Về mặt khoa học, nhập tĩnh ứng với tình trạng cơ bắp thư giãn hoàn toàn và sóng não hạ thấp từ nhịp Beta nhanh và không ổn định xuống nhịp Alpha hoặc Theta chậm và ổn định hơn. Trong điều kiện này bất kỳ sự căng thẳng nào kể cả sự căng thẳng của quá trình chú ý (chẳng hạn phân tích, lý luận về vấn đề đang chú ý) đều sẽ làm thay đổi sóng não và phá vỡ sự nhập tĩnh. Chính sự tự ám thị trong điều kiện thư giãn hoặc gần nhập tĩnh giúp thúc đẩy nhanh quá trình hình thành nên những cung phản xạ mới cho yêu cầu chữa bệnh hoặc cải thiện hành vi, nhân cách. Ở nhiều bệnh nhân mắc những bệnh mãn tính đã trãi qua điều trị lâu dài, tính trầm trọng không phải ở chính căn bệnh mà ở tâm lý chán nản, trầm uất. Tâm lý này phát xuất từ suy nghĩ mình là gánh nặng của gia đình hoặc do thiếu niềm tin vào thầy, vào thuốc. Yêu cầu điều trị trong những trường hợp này là phải giải tỏa được trầm uất và tăng cường niềm tin sẽ khỏi bệnh. Đó là lý do tại sao thiền và những suy nghĩ tích cực lại hữu hiệu trong hầu hết những bệnh kinh niên. Với liệu pháp thiền, có thể nói người bệnh chính là thầy thuốc và sức miễn dịch được nâng lên chính là thuốc chữa bệnh.
Cứu cánh của thiền định là nhằm vào sự giải thoát khỏi bánh xe luân hồi – vòng sinh tử. Mặc dù đó là một công việc khó nhất, nhưng những lợi ích tích cực có thể đạt được ngay hiện tại, nếu ta thực hành thiền định. Những lợi ích của thiền định có thể được tóm lược như sau:
1- Nếu bạn là người bận rộn, thiền định có thể giúp bạn buông bỏ căng thẳng và tìm đến sự thanh thản.
2- Nếu bạn là một người lo âu, thiền định có thể làm bạn bình tĩnh và tìm đến tâm an bình.
3- Nếu bạn là một người có vô tận những vấn đề, thiền định có thể giúp bạn phát triển lòng can đảm và nghị lực để đối mặt và khắc phục chúng.
4- Nếu bạn thiếu tự tin, thiền định có thể giúp bạn thu được tự tin vốn là bí quyết thành công trong đời sống.
5- Nếu bạn có tâm lo sợ, thiền định có thể giúp bạn thấu hiểu thực chất của những vấn đề khiến bạn hoảng loạn – lúc đó bạn có thể khắc phục tâm lo sợ.
6- Nếu bạn luôn luôn bất mãn với mọi sự và không có gì trong đời sống làm bạn thỏa mãn – thiền định có thể cho bạn cơ hội để phát triển và duy trì sự hài lòng với chính mình.
7- Nếu bạn hoài nghi và không quan tâm đến cách sống đạo lý, thiền định có thể giúp bạn vượt qua thái độ hoài nghi và thấy vài giá trị thực tiễn trong hướng dẫn đạo pháp.
8- Nếu bạn thất bại và khổ sở do thiếu hiểu biết về tình trạng bấp bênh của đời sống và thế giới, thiền định có thể thực sự hướng dẫn và giúp bạn hiểu biết tính phù du của các pháp thế gian.
9- Nếu bạn là người giàu, thiền định có thể giúp bạn nhận chân bản chất sang trọng cao cả của bạn và cách sử dụng nó không những vì chính hạnh phúc của bạn mà còn vì hạnh phúc tha nhân.
10- Nếu bạn là người nghèo, thiền định có thể giúp bạn phát triển sự tri túc và không dung dưỡng lòng ganh tỵ với những người có nhiều hơn bạn.
11- Nếu bạn là một thanh niên ở bước ngoặc của cuộc đời, và bạn không biết rẽ về đâu, thiền định có thể giúp bạn tìm thấy chánh đạo để đi đến mục đích đã chọn được.
12- Nếu bạn là một người đứng tuổi, chán ngán cuộc sống, thiền định có thể mang lại cho bạn sự hiểu biết cuộc sống sâu sắc hơn; sự hiểu biết này lần lượt sẽ làm vơi đi những nỗi
đau của bạn và gia tăng niềm vui sống.
13- Nếu bạn nóng tánh, bạn có thể phát triển sức mạnh để khắc phục nhược điểm của tánh nóng nảy, thù hận để trở thành người điềm tĩnh hơn.
14- Nếu bạn ganh tỵ, bạn có thể hiểu rằng những thái độ tinh thần tiêu cực không bao giờ
đóng góp bất cứ điều gì cho lợi ích của bạn.
15- Nếu bạn không thể giảm tham ái đối với các dục lạc, bạn có thể học cách trở thành người làm chủ những dục lạc của bạn.
16- Nếu bạn nghiện rượu hoặc ma túy, bạn có thể khắc phục thói quen nguy hiểm đã
từng làm cho bạn trở thành nô lệ.
17- Nếu bạn là người hẹp hòi, bạn có thể phát triển cái trí sáng suốt, nó sẽ mang lại lợi ích cho bạn, bằng hữu và gia đình của bạn và tránh cái hiểu lầm lạc.
18- Nếu những cảm xúc tác động mạnh mẽ nơi bạn, chúng sẽ không có cơ hội để làm cho bạn lầm đường lạc nẻo.
19- Nếu bạn khổ sở từ những hỗn loạn như những chứng suy nhược thần kinh và xáo trộn tinh thần, thiền định có thể làm khơi dậy những năng lực tích cực trong thân tâm bạn để phục hồi sức khỏe, đặc biệt nếu chúng thuộc những vấn đề thần kinh.
20- Nếu bạn là người nhu nhược hoặc là người duy trì tính phức cảm tự ty, thiền định có thể củng cố nội tâm bạn để phát triển lòng can đảm và khắc phục sự nhu nhược.
21- Nếu bạn là người sáng suốt, thiền định sẽ hướng dẫn bạn đến trí tuệ cao siêu. Lúc đó bạn sẽ thấy chân tướng của các pháp, và không còn thấy theo vẻ ngoài nữa.
Đây là một vài lợi ích thực tiễn xuất phát từ việc thực hành thiền định. Những lợi ích này nhằm phục vụ thiết thực cho việc giữ gìn sức khỏe. Tâm là chìa khóa mở cửa hạnh phúc và cũng là chìa khía mở cửa khổ đau. Hiểu và khéo dùng tâm trong giải pháp Thiền là phương thuốc hiệu quả để có sức khỏe tốt cho mỗi người chúng ta.
C. Kết luận
Cuộc sống là một sự liên đới bởi tất cả đều có sự điều động của nhân quả. Sở dĩ con người khổ đau, mang nhiều bệnh tật, mạng sống ngắn ngủi là do tội lỗi của thân, miệng, ý; hay nói khác hơn là do đời sống không biết quy hướng về nẻo chánh. Cuộc sống thật sự không phải là một lý thuyết hay một chuỗi thời gian vô ích nhưng là kinh nghiệm có liên hệ mật thiết để chúng ta ý thức mình là ai và biết rõ rệt hơn về đời sống của chúng ta và mối quan hệ của chúng ta với những gì hiện hữu bên chúng ta .
Theo lời Đức Phật đã dạy, chúng ta cần phải có tâm ý vui vẽ hòa hiệp trong khi chung sống với nhau, và muốn có tâm ý hòa hiệp phải tu hạnh hỷ xả, nghĩa là bỏ ra ngoài những sự buồn phiền hờn giận, không chấp chặt trong lòng những lỗi lầm của kẻ khác .
Chúng ta sẵn có mọi khả năng để sống khỏe mạnh và hài hòa, chỉ vì không biết vận dụng để điều hòa cuộc sống nên chúng ta chỉ sống trong sự tham muốn không biết đủ, để rồi luôn chạy theo nhu cầu của xã hội. Nhu cầu của xã hội thì không biết chừng nào mới thỏa đáng cho chúng ta. Thay vào đó, chúng ta lại luôn cảm thấy cần thiết phải có cái gì đó để thỏa mãn cái tôi. Vì chúng ta thiếu tự tin, chưa tỉnh giác được nên cần phải có sự hỗ trợ từ những nhu cầu bên ngoài, từ những tri thức hay phương tiện vật chất. Mỗi khi không có được những cái đó, chúng ta cảm thấy cô đơn, hụt hẫng và lo âu, làm tiêu hao hết năng lượng trong thân của chúng ta. Khi năng lượng tiêu hao hết thì thân thể suy sụp, ý chí thất vọng và tuổi thọ cũng giảm theo.
Vì vậy, đối với vấn đề sức khoẻ và tuổi thọ con người, nó không những có giá trị thiết thực mà còn có tính chất quyết định nữa. Chúng ta cần phải tin tưởng rằng, có thiền định thì cuộc sống sẽ được an vui, ngày đêm không phải lo âu sợ hãi. Mỗi khi không còn bận tâm lo sợ nữa thì tâm hồn thoải mái, thảnh thơi, bệnh tật sẽ tiêu tan, sức sống lại dồi dào và vững tin đi vào cuộc sống.
Cuộc sống thời đại ngày nay chỉ chạy theo vật chất và nặng nề bởi lối tư duy hữu ngã, con người đã phủ nhận hoặc đã bỏ quên nhu cầu đời sống nội tâm, luôn tìm cầu hướng ngoại. Họ đề cao tôn thờ chủ nghĩa vật chất. Chính chủ nghĩa vật chất đã khơi dậy ngọn lửa dục vọng của con người cao độ, dẫn đến những tệ nạn xã hội như ma túy, rượu chè, bệnh AIDS, mại dâm, tuổi trẻ phóng túng, côn đồ, v.v.
Chúng ta làm việc gì cũng phải khế hợp với nhận thức đúng đắn, tư duy đúng đắn, nói năng đúng đắn, hành động đúng đắn, mưu sinh đúng đắn, nhớ nghĩ đúng đắn, mới gọi là tinh tấn chánh đáng . Nếu nghĩ tưởng nhiều quá, xa quá, sâu quá thì trí tuệ hoàn toàn không có cách gì hiển lộ được, bởi vì vọng niệm chướng ngại trí tuệ vốn có của tự tính . Phải nói rằng, sức khỏe và tuổi thọ là vấn đề cấp bách, nóng bỏng. Do đó, chúng ta cần phải áp dụng những phương pháp đã đề ra về giải pháp của Thiền dành cho sức khỏe để duy trì được cuộc sống hạnh phúc của chúng ta trong thời đại ngày nay.
Nguyễn Thị Quế Anh
(Thích Nữ Diệu Hương)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Minh Đức Triều Tân Ảnh (2005), Một cuộc đời một ngôi sao, Nhà xuất bản tôn giáo, trang 152-153.
2. Swami Amar Jyoti (1988), Bên rặng tuyết sơn, (Bản dịch của dịch giả Nguyên Phong).
3. Đại sư Thái Hư (1993), Sơ đẳng Phật học Giáo khoa thư (Hán Việt đối chiếu), Việt dịch Thích Thiện Tông, trang 240.
4. Pháp sư Tịnh Không (2003), Truyền Thọ tam quy, (người dịch: Thích Chân Tính), Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội.
5. Tam Tạng Việt Nam, Kinh Tạng (Sutta Pitaka) (2007), Chú giải lịch sử chư Phật, Nhà xuất bản Tôn Giáo – Hà Nội.
6. Hòa thượng Thích Thiện Hoa (1992), Phật học phổ thông, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trang 350.
7. Minh Đức, Thanh Lương (2001), Tịnh độ Luận, Nhà xuất bản Tôn Giáo, trang 352.
8. Lâm Thanh Huyền, Những hạt đậu biết nhảy, (Tuyển tập 29 chuyện ngắn Phật học), Phạm Huê dịch, trang 159.
9. Thích Duy Lực (1994), Đại thừa tuyệt đối luận – Phương pháp tu trì của thiền tông, Thành hội Phật giáo Tp.HCM.
10. Ernest K.S. Hunt (1993), The Buddha and hs teaching, (Tịnh Minh dịch và chú giả từ vựng), trang 129.
DÀN BÀI
A . DẪN NHẬP.
B. NỘI DUNG.
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
1. Một số khái niệm về Thiền trong Phật học.
2. Khái niệm về Thiền trong y học.
3. Liệu pháp Thiền và những suy nghĩ tích cực.
4. Thiền dưới cái nhìn của nhà khoa học.
II. SỨC KHỎE CON NGƯỜI NGÀY NAY : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Thực trạng.
2. Nguyên nhân và giải pháp.
2.1 Giai tầng xã hội.
2.2 Căng thẳng.
2.3 Đặc quyền và xã hội.
2.4 Việc làm.
2.5 Tình trạng thất nghiệp.
2.6 Tương quan hổ trợ xã hội.
2.7 Ghiền rượu, thuốc.
2.8 Thực phẩm.
III.ỨNG DỤNG THIỀN TRONG VIỆC TRỊ BỆNH.
1.Thân bệnh.
2.Tâm bệnh.
2.1 tham
2.2 sân.
2.3. si
3. Nghiệp bệnh.
C. KẾT LUẬN.
